Phân tích 7 câu thơ đầu trong bài thơ Đồng chí

Bài phân tích 7 dòng đầu của bài thơ Đồng chí dưới đây sẽ giúp các em học sinh nắm được cơ sở hình thành tình đồng chí, tình bạn của những người lính trong cuộc kháng chiến chống Pháp trước đây.

Chủ đề: Phân tích 7 dòng đầu của bài thơ Camarada

Mục lục bài viết:
I. Đường viền chi tiết
II. ví dụ thử nghiệm

Phân tích 7 dòng đầu của bài thơ Camarada

I. Phân tích dàn ý 7 dòng đầu của bài thơ Camarada (Padrão)

1. Khai giảng lớp

– Giới thiệu chung về nhà thơ Chính Hữu và bài thơ Đồng chí.
– Dẫn dắt đến 7 câu thơ đầu của bài: Cơ sở hình thành tình đồng chí gắn bó của những người lính.

2. Cơ thể

một. Những người lính cùng xuất thân và lai lịch

– “quê hương”, “làng quê”: Những từ cùng nghĩa → Tất cả những người lính đều xuất thân từ nông dân nghèo.
– “ruộng chua nước mặn”, “đất cày lên sỏi đá”: hoàn cảnh, điều kiện sống khắc nghiệt, khó khăn → quê hương nghèo khó.
=> Những người lính giống nhau về hoàn cảnh và điều kiện sống.

B. Những người lính có chung lý tưởng cứu nước

– Các đại từ “anh ấy” – “tôi” gần gũi, thân thiết.
– “Guns for Guns”: Những người lính kề vai sát cánh trong trận chiến.
– “Đối đầu”: Cùng chung lý tưởng đấu tranh cao cả: Ra đi, chiến đấu bảo vệ quê hương đất nước.

c. Cùng nhau trải qua những khó khăn vất vả trong cuộc sống hàng ngày

– “Đêm lạnh”: Khí hậu lạnh và khắc nghiệt.
– “Chăn chung”: chia sẻ cho nhau những thứ khan hiếm, thiếu thốn.
– “Trở thành tri kỷ”: tình cảm thân thiết, gắn bó
– “Đồng chí!”: Tình cảm gắn bó, gắn bó, khó chia lìa.

3. Kết luận

Khẳng định lại giá trị của bài thơ.

II. Bài văn mẫu Phân tích 7 dòng đầu của bài thơ Camarada (Padrão)

Chính Hữu là một trong những tác giả tiêu biểu của văn học thời kháng chiến chống Pháp. Thơ Chính Hữu giản dị, chân thật nhưng thấm đẫm tình người, những trang thơ của ông đã gợi mở trong lòng người đọc những cảm xúc khó quên về vẻ đẹp của người lính nơi chiến trận. Một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của Chính Hữu là bài “Đồng chí”, bài thơ về tình đồng chí, tình đồng chí cao cả. Đặc biệt, ở 7 khổ thơ đầu, nhà thơ đã tập trung làm rõ những cơ sở hình thành nên tình cảm thiêng liêng, cao quý này.

Ngay phần đầu của bài thơ, tác giả Chính Hữu đã mượn một câu thành ngữ bình dân để trình bày về quê hương của người lính và những tình huống gặp phải:

“Quê tôi là vùng nước chua mặn.
Làng tôi nghèo đất đá cày xới ”

Những từ ngữ cùng trường nghĩa “quê hương”, “làng quê” gắn với đặc điểm địa lý được tác giả vận dụng tinh tế để gợi lên khung cảnh thôn quê nghèo khó. Anh và tôi xuất thân từ nông dân, sinh ra và lớn lên ở nơi khô cằn sỏi đá, ruộng chua phèn. Những hình ảnh gợi ra từ sáng tạo thành ngữ dân gian “ruộng chua nước mặn”, “đất cày lên đá” đã cho thấy những khó khăn, vất vả của người lao động nơi đây phải mưu sinh. , làm ăn mà đất đai không mấy thuận lợi, cây cối hoa màu khó phát triển. Những người lính cùng cảnh ngộ, họ đều là những người nông dân nghèo quanh năm chân lấm tay bùn. Cũng chính sự tương đồng về xuất thân, hoàn cảnh sống đã giúp những người lính thêm gắn bó với nhau.

“Anh ấy đôi khi xa lạ với tôi
Ông trời không hẹn trước với nhau “

Các đại từ “anh” – “em” nghe có vẻ xa lạ, nhưng khi kết hợp với quan hệ từ “với” lại gợi lên sự gần gũi, gắn bó đến thế! Đồng thời, đó cũng là cách người lính thể hiện tình cảm, sự kính trọng của mình đối với người đồng đội “anh” – “em”. Họ đến từ những miền đất xa lạ, họ gặp nhau khi trái tim cùng chung nhịp đập yêu nước, cùng chung mục đích chiến đấu, khi cả hai cùng mang trong mình sứ mệnh chiến đấu bảo vệ quê hương. Tình cảm gắn bó giữa hai người lính không chỉ là cùng cảnh ngộ, mà còn là sự đồng điệu của cả lý tưởng và mục đích cao cả: chiến đấu vì Tổ quốc.

“Súng bên cạnh súng, đối đầu
Đêm lạnh chung chăn như đôi tri kỷ “

Những người lính bỏ cày ngoài đồng để vào chiến trường gian khổ theo tiếng gọi của Tổ quốc. Họ đã kề vai sát cánh làm nhiệm vụ, luôn trong tư thế cảnh giác, sẵn sàng đánh địch “giương súng”. Câu thơ đôi, điệp từ “vũ khí”, cùng một câu thơ 3/3 kết hợp với hình ảnh giàu hình ảnh trong ngôn từ, Chính Hữu đã xây dựng nên một hình ảnh đẹp về tình đồng chí trong khi thi hành công vụ. Với tiết tấu nhịp nhàng, cảnh vừa thực vừa như mơ. Tác giả thấm thía hiện thực khắc nghiệt của chiến tranh, nhưng không phủ nhận sự khốc liệt của nó, nêu cao hình ảnh “đầu súng” để khẳng định lí tưởng yêu nước và ý chí quyết tâm đánh giặc của người chiến sĩ. Trên chiến trường, những người lính không chỉ phải đối mặt với hiểm nguy bom đạn mà họ còn phải đối mặt với sự thiếu thốn về vật chất và tinh thần. Nhưng cũng chính sự thiếu thốn, khắc nghiệt của hoàn cảnh cuộc sống đã làm cho tình đồng chí, đồng đội trở nên bền chặt và đáng quý hơn:

“Đêm lạnh có nhau làm nên đôi tri kỷ”

Khi màn đêm buông xuống cũng là lúc những người lính cảm nhận được cái lạnh buốt giá của thời gian nơi rừng thiêng, nước độc. Khó khăn là thế, khó khăn là thế, nhưng những người lính vẫn sẻ chia phần nào hơi ấm của tấm chăn mỏng “Đêm lạnh chung chăn”. “Chung” ở đây không chỉ là hành động sẻ chia vật chất, mà còn là sự gắn bó về tinh thần, tình cảm. Câu thơ gợi lên sự khắc nghiệt của những cảnh đời nhưng cũng làm nổi bật vẻ đẹp của tình đồng chí, tình đồng đội giữa những người lính.

Câu 7 trong đoạn thơ mở đầu tuy chỉ nói hai từ thân mật nhưng chứa đựng bao tình cảm cao cả, thiêng liêng;

“Các đồng chí!”

Tôi và anh ấy đã đi từ một “cặp đôi xa lạ” thành “bạn tâm giao” và gắn bó thân thiết trở thành “bạn thân”. Hai tiếng “đồng chí!” Ngắn gọn bằng hai từ kết hợp với dấu chấm than, nó như một lời khẳng định về tình cảm giản dị mà thiêng liêng, cao đẹp đã hình thành trong những ngày tháng gian khổ nhất của cuộc Chiến tranh Vệ quốc, giữa những con người có cùng nguồn gốc, cùng mục đích cao cả. Câu thơ thứ bảy như một nốt nhạc vang dội, kết tinh những tình cảm chân thật, thiêng liêng tuyệt vời nhất của những người lính trao nhau giữa chiến trường.

Belinsky đã từng nói: “Trước hết thơ ca là cuộc sống, sau đó mới là nghệ thuật”. Thực ra, Chính Hữu đã thể hiện cuộc sống của chính mình qua lời kể của chính mình. Bài thơ đã thể hiện tình đồng chí chân chính trong thời chiến bằng những điều giản dị, chân thành và tự nhiên nhất, mỗi câu thơ, câu thơ góp phần thể hiện tình cảm cao đẹp của những người cách mạng thời chiến.

——TRÊN——

https://thuthuat.taimienphi.vn/phan-tich-7-cau-tho-dau-trong-bai-tho-dong-chi-69349n.aspx
Các bạn vừa tham khảo bài Phân tích 7 câu đầu của bài Đồng chí. Để hiểu thêm về vẻ đẹp của tình bạn thân thiết và giá trị tư tưởng của tác phẩm, mời các bạn xem bài viết sau: Bình luận bài thơ Đồng chí của Chính Hữu, Vẻ đẹp của tình bạn thắm thiết được thể hiện trong bài thơ Đồng chí, Đóng vai chú bộ đội kể lại bài thơ Đồng Chí.Xem lại khổ thơ cuối bài Đồng chí.

Thông tin thêm về Phân tích 7 câu thơ đầu trong bài thơ Đồng chí

Phân tích 7 câu thơ đầu trong bài thơ Đồng chí

Bài Phân tích 7 câu thơ đầu trong bài thơ Đồng chí dưới đây sẽ giúp các em hiểu được cơ sở hình thành tình đồng chí, đồng đội của những người lính trong kháng chiến chống Pháp xưa.
Đề bài: Phân tích 7 câu thơ đầu trong bài thơ Đồng chí
Mục lục bài viết:I. Dàn ý chi tiếtII. Bài văn mẫu

Phân tích 7 câu thơ đầu trong bài thơ Đồng chí
I. Dàn ý Phân tích 7 câu thơ đầu trong bài thơ Đồng chí (Chuẩn)
1. Mở bài
– Giới thiệu chung về nhà thơ Chính Hữu và bài thơ Đồng chí.– Dẫn dắt vào 7 câu thơ đầu của bài: Cơ sở hình thành tình đồng chí, đồng đội của những người lính.
2. Thân bài
a. Những người lính có chung hoàn cảnh, xuất thân
– “quê hương”, “làng”: Các từ cùng trường nghĩa → Những người lính đều có xuất thân từ những người nông dân nghèo.– “nước mặn đồng chua”, “đất cày lên sỏi đá”: hoàn cảnh, điều kiện sống khắc nghiệt, khó khăn → quê hương nghèo khó.=> Những người lính tương đồng về cảnh ngộ, hoàn cảnh sống.
b. Những người lính có chung lí tưởng cứu nước cao đẹp
– Các xưng hô “anh” – “tôi” thân thiết, gần gũi.– “Súng bên súng”: Những người lính kề vai sát cánh trong chiến đấu.– “Đầu sát bên đầu”: Cùng chung lí tưởng chiến đấu cao đẹp: Ra đi, chiến đấu để bảo vệ quê hương.
c. Cùng nhau trải qua những khó khăn, gian khổ trong cuộc sống sinh hoạt và chiến đấu
– “Đêm rét”: Thời tiết lạnh giá, khắc nghiệt.– “Chung chăn”: chia sẻ với nhau những thứ vật chất ít ỏi, thiếu thốn.– “Thành đôi tri kỉ”: tình cảm gắn bó khăng khít, thân tình– “Đồng chí!”: tình cảm keo sơn, gắn bó, khó tách rời.
3. Kết bài
Khẳng định lại giá trị của đoạn thơ.
II. Bài văn mẫu Phân tích 7 câu thơ đầu trong bài thơ Đồng chí (Chuẩn)
Chính Hữu là một trong những tác giả nổi bật của văn học thời kì kháng chiến chống Pháp. Thơ Chính Hữu giản dị, chân thật mà thấm đượm tình người, những trang thơ của ông đã mở ra trong tâm hồn người đọc những cảm xúc khó quên về vẻ đẹp của những người lính nơi chiến trận. Một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của Chính Hữu là “Đồng chí”, bài thơ viết về tình đồng đội, đồng chí cao đẹp. Đặc biệt, trong 7 khổ thơ đầu tiên, nhà thơ đã tập trung làm sáng tỏ cơ sở hình thành nên tình cảm cao đẹp, thiêng liêng ấy.
Ngay trong phần đầu bài thơ, tác giả Chính Hữu đã mượn thành ngữ dân gian giới thiệu về quê hương, hoàn cảnh gặp gỡ của những người lính:
“Quê hương anh nước mặn đồng chuaLàng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá”
Các từ cùng trường nghĩa “quê hương”, “làng” gắn với đặc điểm địa lý được tác giả vận dụng tinh tế để gợi liên tưởng về những vùng quê nghèo. Anh và tôi đều xuất thân từ nông dân, sinh ra và lớn lên nơi sỏi đá khô cằn, nơi đồng chua nước mặn. Những hình ảnh được gợi lên từ sự sáng tạo những thành ngữ dân gian”nước mặn đồng chua”, “đất cày lên sỏi đá” đã cho thấy được những khó khăn, nhọc nhằn của người lao động nơi đây, họ phải kiếm sống, làm ăn nơi vùng đất không mấy thuận lợi, cỏ cây, hoa màu khó sinh trưởng. Những người lính có sự tương đồng về cảnh ngộ, họ đều là những người nông dân nghèo quanh năm chân lấm tay bùn. Cũng chính sự tương đồng về xuất thân, hoàn cảnh sống đã giúp những người lính trở nên gắn bó với nhau.
“Anh với tôi đôi người xa lạTự phương trời chẳng hẹn quen nhau”
Các xưng hô “anh” – “tôi” tưởng như xa lạ nhưng khi kết hợp cùng quan hệ từ “với” lại gợi sự gắn bó, gần gũi biết bao! Đồng thời, đó cũng là cách mà người lính thể hiện tình cảm, sự trân trọng của mình dành cho người đồng chí chiến đấu “anh”- “tôi”. Họ đến từ những quê hương, phương trời xa lạ, họ gặp nhau khi con tim cùng chung nhịp đập của lòng yêu nước, khi có chung mục đích chiến đấu lớn lao, khi cả hai cùng mang sứ mệnh đấu tranh bảo vệ quê hương. Tình cảm gắn bó giữa hai người lính không chỉ là cùng cảnh ngộ mà còn là sự hoà hợp cả về lý tưởng và mục đích cao đẹp: chiến đấu vì Tổ quốc.
“Súng bên súng, đầu sát bên đầuĐêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ”
Những người lính rời xa tay cày nơi ruộng đồng để đến nơi chiến trường khắc nghiệt theo tiếng gọi của Tổ quốc. Họ sát cánh bên nhau làm nhiệm vụ, luôn trong tư thế cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu với quân thù “súng bên súng”. Câu thơ sóng đôi, phép điểm từ “súng’, bên cùng nhịp thơ 3/3 kết hợp với hình ảnh giàu chất hội họa trong ngôn từ, Chính Hữu đã dựng lên một bức tranh đẹp của tình đồng chí trong khi thực thi nhiệm vụ. m điệu nhịp nhàng, cảnh vừa thực, vừa mộng. Tác giả đang thi vị hoá cái hiện thực khắc nghiệt của chiến tranh nhưng không hề chối bỏ cái khốc liệt của nó, dựng lên hình ảnh “súng bên súng” để khẳng định lý tưởng yêu nước, quyết tâm chống giặc của những người lính. Ở nơi chiến trường, những người lính không chỉ phải đối mặt với hiểm nguy của bom đạn mà còn đối mặt với cả nhưng thiếu thốn về vật chất lẫn tinh thần. Nhưng cũng chính cái thiếu thốn, khắc nghiệt của hoàn cảnh sống càng làm cho tình đồng đội, đồng chí trở nên bền chặt, đáng quý:
“Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ”
Khi màn đêm buông xuống cũng là khi những người lính cảm nhận thấm thía cái lạnh cắt da cắt thịt của thời tiết nơi rừng thiêng nước độc. Khó khăn là vậy, gian khổ là vậy nhưng những người lính vẫn san sẻ cho nhau chút hơi ấm ít ỏi từ tấm chăn mỏng “Đêm rét chung chăn”. “Chung” ở đây không chỉ là hành động sẻ chia về vật chất mà còn là sự gắn bó về tinh thần, tình cảm. Câu thơ gợi ra cái khắc nghiệt của hoàn cảnh sống nhưng cũng làm nổi bật lên vẻ đẹp của tình đồng đội, đồng chí giữa những người lính.
Câu thơ thứ 7 trong lời mở đầu cất lên chỉ hai tiếng thân tình mà chất chứa bao tình cảm cao đẹp, thiêng liêng;
“Đồng chí!”
Anh và tôi từ “đôi người xa lạ” trở thành “đôi tri kỉ” và gắn bó thân thiết thành “đồng chí”. Hai tiếng “Đồng chí!” ngắn gọn với hai tiếng kết hợp cùng dấu chấm than vang lên như một lời khẳng định về tình cảm bình dị mà thật thiêng liêng, cao đẹp, nó được hình thành trong những ngày tháng gian khó nhất của cuộc chiến tranh vệ quốc, giữa những con người có chung xuất thân, cùng chung lí chí hướng cao cả. Câu thơ thứ bảy như một nốt nhạc ngân vang, kết tinh những tình cảm tuyệt diệu, thiêng liêng, chân thật nhất của những người lính trao nhau giữa chiến trường.
Bêlinxki từng nói: “Thơ trước hết là cuộc đời sau đó mới là nghệ thuật”. Quả thật, Chính Hữu đã tái hiện chính cuộc đời qua ngôn từ của mình. Đoạn thơ đã thể hiện được tình đồng chí chân thực trong thời chiến với những gì giản dị, chân chất, tự nhiên nhất, mỗi lời thơ, tứ thơ đều góp phần thể hiện tình cảm cao đẹp của người cách mạng thời chiến.
—————–HẾT—————-
https://thuthuat.taimienphi.vn/phan-tich-7-cau-tho-dau-trong-bai-tho-dong-chi-69349n.aspx Các em vừa tham khảo bài viết Phân tích 7 câu đầu tác phẩm Đồng chí. Để tìm hiểu thêm về vẻ đẹp của tình đồng chí cùng giá trị tư tưởng của tác phẩm, các em tham khảo bài: Thuyết minh về bài thơ Đồng chí của Chính Hữu, Vẻ đẹp của tình đồng chí được thể hiện trong bài thơ Đồng chí, Đóng vai người lính kể lại bài thơ Đồng Chí, Phân tích khổ cuối bài Đồng Chí.

#Phân #tích #câu #thơ #đầu #trong #bài #thơ #Đồng #chí


#Phân #tích #câu #thơ #đầu #trong #bài #thơ #Đồng #chí

Blog Tiền Điện Tử

Back to top button