Cảm nhận về tình đồng chí thiêng liêng giữa những người lính Cách mạng trong bài thơ Đồng Chí

Qua bài “Cảm nhận tình đồng chí thiêng liêng giữa những người chiến sĩ cách mạng” trong bài thơ “Đồng chí”, các em sẽ thấy được tình đồng chí chân thành, nghiêm trang và sâu nặng của Bộ đội Cụ Hồ. những năm đầu kháng chiến chống Pháp.

Chủ đề: Cảm xúc về tình đồng chí thiêng liêng giữa những người lính cách mạng trong bài thơ Camarada

Mục lục bài viết:
I. Đường viền chi tiết
II. ví dụ thử nghiệm

Cảm xúc về tình đồng chí thiêng liêng giữa những người lính cách mạng trong bài thơ Camarada

I. Nêu cảm nghĩ về tình đồng chí thiêng liêng của các chiến sĩ cách mạng trong bài thơ Đồng chí (Chuẩn)

1. Khai giảng lớp:

– Giới thiệu về nhà thơ Chính Hữu và bài thơ Đồng chí.
– Dẫn dắt vào chủ đề cần nghị luận: Tình đồng chí thiêng liêng của những người lính.

2. Thân bài:

một. Tổng quat:

– Bài thơ Camarada ra đời năm 1948, sau khi tác giả cùng những người bạn đồng hành chiến đấu trong chiến dịch Tây Bắc (thu đông 1947).
– Bài thơ nói về tình đồng đội, tình đồng chí cao cả, thiêng liêng giữa những người lính trong cuộc kháng chiến chống Pháp.

B. Cảm xúc về tình đồng chí thiêng liêng:

* Cơ sở hình thành tình bạn thân thiết (7 câu đầu):

– Có cùng nguồn gốc:
+ Tất cả đều xuất thân từ mảnh ruộng nghèo “ruộng chua nước mặn”, “đất cày lên sỏi đá”.
+ Nghe theo tiếng gọi của Tổ quốc, họ đã quen nhau và trở thành những người đồng chí “tri kỉ”.

– Chia sẻ những khó khăn trong cuộc sống hàng ngày và những cuộc đấu tranh:
+ Họ chia sẻ với mọi khó khăn gian khổ nơi chiến trận: “Áo anh rách vai, quần em mấy mảnh vá”, “đêm rét dưới chăn”.
+ Sánh vai trong chiến đấu “súng kề vai sát đầu”.
→ Những người lính dần thân thiết, trở thành “bạn thân” của nhau.

* Biểu hiện của tình bạn thân thiết (10 câu thơ tiếp theo):

– Chia sẻ những suy nghĩ cảm xúc:
+ Trả lại ruộng, nhà cho bạn đồng hành “Ruộng rẫy ta sai bạn thân đi cày”.
+ Chia sẻ với nhau nỗi nhớ quê hương, về gia đình “gốc gác nhớ người lính”.

– Chia sẻ những khó khăn vướng mắc:
+ Bộ đội Cụ Hồ những năm đầu kháng chiến chống Pháp phải chịu đựng đủ thứ thiếu thốn lương thực, thuốc men, v.v.
+ Cùng nhau trải qua những khó khăn, trắc trở của hoàn cảnh: “Anh và em biết từng cơn ớn lạnh / Sốt rét, trán lấm tấm mồ hôi…”
+ Hình ảnh “thương nhau, nắm tay nhau”: biểu hiện cao cả, thiêng liêng của tình bạn thắm thiết. Đó là cái bắt tay của sự sẻ chia, là lời động viên lẫn nhau.

– Biểu tượng đẹp của tình bạn thân thiết:
+ “Sát cánh bên nhau”: những người lính sát cánh bên nhau trong trận chiến.
+ “Chờ giặc đến”: đây là tư thế hiên ngang, chủ động thể hiện quyết tâm đánh giặc của người chiến sĩ.
+ Hình ảnh “đầu súng trăng treo” mang ý nghĩa biểu tượng:

  • Hình ảnh chân thực: bộ đội phục kích địch ban đêm, súng chĩa lên trời, trăng như treo đầu súng.
  • Ý nghĩa tượng trưng: Vũ khí là biểu tượng của chiến tranh, vầng trăng là biểu tượng của hòa bình: hai hình ảnh đối lập nhưng bổ sung cho nhau, thể hiện hình ảnh người lính và tình đồng chí cao cả.

3. Kết luận:

– Khẳng định giá trị của bài thơ.

II. Bài văn mẫu Cảm nghĩ về tình đồng chí thiêng liêng giữa những người chiến sĩ cách mạng trong bài thơ Đồng chí (Chuẩn)

Chính Hữu là nhà thơ trưởng thành trong hai cuộc kháng chiến của dân tộc. Chính Hữu có nhiều trang thơ viết về người lính và chiến tranh, trong đó nổi bật nhất có thể kể đến bài “Đồng chí”. Bài thơ “Đồng chí” được coi là tác phẩm tiêu biểu nhất viết về người chiến sĩ cách mạng trong văn học kháng chiến những năm 1946 – 1954. Bài thơ là vẻ đẹp chân chất, giản dị của người lính trong kháng chiến. Nước Pháp và tình đồng chí, đồng đội vô cùng cao quý.

Bài thơ “Đồng chí” được nhà thơ Chính Hữu viết năm 1948, sau khi ông cùng những người bạn đồng hành chiến đấu trong chiến dịch Việt Bắc (thu đông 1947), đánh bại cuộc tấn công lớn của quân Pháp lên chiến khu Việt Bắc.

Mở đầu bài thơ, Chính Hữu đã chỉ ra những cơ sở hình thành nên tình cảm thắm thiết thắm thiết:

“Quê tôi là nước chua mặn
Làng tôi nghèo đất đá cày xới
Anh ấy đôi khi xa lạ với tôi
Từ bầu trời chúng ta không gặp nhau
Súng bên hông súng sát đầu.
Đêm lạnh lẽo trùm chăn trở thành tri kỷ
Các đồng chí! “

Những người lính vốn xuất thân là những người nông dân chân lấm tay bùn, họ xuất thân từ nhiều lĩnh vực khác nhau, từ “ruộng chua nước mặn” đến ruộng “đá cày” nhưng đều có chung một niềm đam mê. . Không trau chuốt, không cắt tỉa, Chính Hữu đã đưa vào thơ mình những hiện thực đời sống của nhân dân Việt Nam những năm đầu kháng chiến chống Pháp. Bộ đội Cụ Hồ đều là những người nông dân áo vải, quen cày cuốc, quen ruộng vườn. Họ không hề “hẹn hò” nhau mà chỉ nghe theo tiếng gọi của Tổ quốc để lên đường. Đó là tiền đề để họ hiểu nhau, là cơ sở để họ chia sẻ và hình thành tình cảm thiêng liêng – tình bạn thân thiết.

Nhưng tình bạn thân thiết của họ không chỉ được tạo nên bởi sự lớn lên trong những bộ quần áo vải vóc mà nó còn trở nên thân thiết và gần gũi hơn qua những tháng ngày họ sống và chiến đấu cùng nhau:

“Vũ khí bên cạnh vũ khí là bên cạnh đầu
Đêm lạnh chung chăn thành tri kỷ ”

Trên chiến trường gian khổ, ác liệt, những người lính kề vai sát cánh trong cuộc chiến “Súng kề vai, súng kề đầu”. Đêm ở chiến khu Việt Bắc với gió rét buốt thấu xương, chiếc chăn nhỏ không đủ ấm, nhưng những người lính đã chung tấm chăn nhỏ ấy “Đêm lạnh chung chăn”. Và thế là họ trở thành “tri kỷ” của nhau! “Bí mật” là từ thể hiện tình cảm gắn bó, thân thiết của những người bạn, những người tri kỷ, họ chia sẻ mọi điều, mọi thứ với nhau. Tình cảm “tri kỷ” của Bộ đội Cụ Hồ đơm hoa kết trái giản dị nhưng vô cùng bền chặt. Có thể nói, cơ sở để hình thành tình bạn thiêng liêng trong thơ Chính Chu thật giản dị, nhưng cũng thật ấm áp! Hai từ “đồng chí” cất lên thật tự nhiên, nhưng cũng thật xúc động. Bài thơ tuy ngắn nhưng đã gây được tiếng vang trong lòng người đọc. “Đồng chí” có nghĩa là cùng chí hướng, có mục tiêu chung. Tình đồng chí còn có tình bạn, tình giai cấp, tình tổ quốc, tình tri kỷ, v.v. Và tình bạn thân thiết đó được tạo nên từ những con người quên mình vì lợi ích của người dân trên khắp mọi miền đất nước. Bài thơ chỉ vỏn vẹn hai chữ nhưng chứa đựng biết bao cảm xúc chân thành!

Từ việc hình thành tình cảm đồng chí, những biểu hiện của tình cảm này được thể hiện rõ nét trong những câu thơ sau:

“Tôi cử người bạn thân nhất của tôi đi cày ruộng
Ngôi nhà không để gió lay
Giếng nước nguyên thủy nhất để binh lính trốn thoát “

Những người lính chiến dịch Việt Bắc năm nào là những chiến sĩ giai cấp nông dân. Nhưng đối với người nông dân, “ruộng”, nhà cửa là tài sản quan trọng nhất của họ. Tuy nhiên, khi nghe lời kêu gọi của toàn dân tộc tham gia kháng chiến, họ đã sẵn sàng “gửi” lại ruộng vườn để đi theo tiếng gọi của Tổ quốc. Hai chữ “buông” thể hiện ý chí quyết tâm cao, tư thế hiên ngang của người chiến sĩ khi lên đường làm nhiệm vụ. Lòng yêu nước và tinh thần hy sinh cao cả của các chiến sĩ gợi nhớ đến những chiến sĩ Vệ quốc đoàn trước đây, những người anh hùng với đầu đội trời, chân đạp đất, coi cái chết là ngọn cờ đỏ. Những người lính kiên quyết ra đi, nhưng trong tâm trí họ, quê hương “giếng cây vả” vẫn là điều họ hoài niệm. Chính Hữu đã sử dụng biện pháp điệp ngữ ở đây, nhân hoá những cảnh tượng nơi quê nhà đang “thương nhớ” những người lính xa quê. Nhưng thực chất đó là nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương của những người lính khi phải xa quê hương vì Tổ quốc.

Trong những ngày khó khăn này, các chiến sĩ đã cùng nhau chia sẻ những gian khổ, khó khăn trên con đường chiến đấu:

“Bạn và tôi biết mọi sự rùng mình
Sốt, trán đẫm mồ hôi
Áo sơ mi của tôi bị rách ở vai
Quần của tôi có một số miếng vá
nụ cười lạnh giá
không có giày “

Đây là thực tế cuộc sống những năm kháng chiến chống Pháp, về vật chất thiếu thốn, thiếu thốn thuốc men, trang bị cho bộ đội chiến đấu. Ở nơi “rừng thiêng nước độc”, những người lính đã phải chịu đựng những cơn sốt hành hạ, khổ sở khi thiếu thốn nhiều vật dụng thiết yếu. Chính Hữu đã tái hiện một cách chân thực hoàn cảnh sống của anh bộ đội Cụ Hồ lúc bấy giờ, về những cơn “rét run”, những cơn sốt rét, những “vầng trán đổ mồ hôi”, về những bộ quần áo “không giầy dép”. Cuộc chiến “có một số bản vá”. Cấu trúc “you – me” được lặp lại như để khẳng định sự sẻ chia mọi khó khăn cùng nhau. Giữa gian khó, tình đồng chí, đồng đội càng thắm thiết, cao đẹp, họ vẫn tự hào nở nụ cười xua tan đêm đông giá rét. Hình ảnh đặc biệt “Yêu nhau nắm tay nhau” đã gây xúc động mạnh về tình đồng chí của những người lính thời chống Pháp. Trong giá lạnh, họ “nắm” tay nhau, truyền cho nhau hơi ấm, động lực và sức mạnh để bảo vệ vững chắc quê hương.

Khép lại bài thơ là một biểu tượng đẹp đẽ của tình bạn thân thiết:

“Đêm nay, rừng hoang sương mù
Sát cánh bên nhau chờ kẻ thù đến
Vũ khí Mặt trăng bị treo “

Trước thực tế phũ phàng của “rừng sương mù”, những người lính vẫn hiên ngang với tư thế làm chủ đầy kiêu hãnh. Họ “kề vai sát cánh”, cầm chắc vũ khí, cùng nhau “chờ giặc đến”. Hình ảnh nào tốt hơn thế này? Hình ảnh ấy với tư thế kiêu hãnh của thành phố ấy đã làm lu mờ bao khó khăn vất vả trước tình đồng chí cao cả ấy. Hình ảnh cuối bài thơ là một chi tiết biểu tượng cho vẻ đẹp của tình bạn thắm thiết:

“Moon Gun Head Treo”

“Đầu súng trăng treo” là hình ảnh chân thực về những đêm phục kích của bộ đội, vũ khí trên vai hướng lên trời và trăng lơ lửng trên không trung như treo vũ khí. Đó cũng là một hình ảnh tượng trưng, ​​“súng” là biểu tượng của chiến tranh và “trăng” là biểu tượng của hòa bình. Hai hình ảnh đối lập nhau, nhưng lại bổ sung cho nhau để làm rõ hình ảnh người lính và tình bạn thân thiết của họ. Câu thơ 2/2 cũng góp phần tạo nên thành công cho hình ảnh này. Giữa hiện thực tàn khốc, khốc liệt của chiến tranh, tâm hồn người lính vẫn bay bổng, lãng mạn bởi trong tim họ luôn có tình đồng chí ấm áp yêu thương.

Với thể thơ tự do, nhịp thơ uyển chuyển cùng các biện pháp nhân hoá, so sánh,… bài thơ “Đồng chí” của nhà thơ Chính Hữu đã xây dựng thành công hình tượng anh bộ đội cụ Hồ trong những năm qua. kháng chiến chống Pháp. Đồng thời bài thơ ca ngợi tình cảm đồng chí thắm thiết. Bài thơ này đã góp phần làm nên thành công rực rỡ của thơ ca kháng chiến giai đoạn 1946-1954.

—–TRÊN—–

https://thuthuat.taimienphi.vn/cam-nhan-ve-tinh-dong-chi-thieng-lieng-giua-nhung-nguoi-linh-cach-mang-trong-bai-tho-dong-chi-69428n. aspx
Để hiểu thêm về tác phẩm Đồng chí của nhà thơ Chính Hữu, cũng như hình tượng người chiến sĩ cách mạng thời kỳ đầu kháng Pháp, hãy xem các bài viết hay khác như: Phân tích 7 dòng đầu của bài thơ CamaradaĐóng vai chú bộ đội kể lại bài thơ Đồng chí, Phân tích hình tượng anh bộ đội trong bài Đồng chíNhận xét về bài thơ Đồng chí của Chính Hữu.

Thông tin thêm về Cảm nhận về tình đồng chí thiêng liêng giữa những người lính Cách mạng trong bài thơ Đồng Chí

Cảm nhận về tình đồng chí thiêng liêng giữa những người lính Cách mạng trong bài thơ Đồng Chí

Thông qua bài viết Cảm nhận về tình đồng chí thiêng liêng giữa những người lính Cách mạng trong bài thơ Đồng Chí, các em sẽ thấy được tình cảm đồng chí đồng đội chân thành, tha thiết, sâu nặng của những người bộ đội cụ Hồ trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp.
Đề bài: Cảm nhận về tình đồng chí thiêng liêng giữa những người lính Cách mạng trong bài thơ Đồng Chí
Mục lục bài viết:I. Dàn ý chi tiếtII. Bài văn mẫu

Cảm nhận về tình đồng chí thiêng liêng giữa những người lính Cách mạng trong bài thơ Đồng Chí 
I. Dàn ý Cảm nhận về tình đồng chí thiêng liêng giữa những người lính Cách mạng trong bài thơ Đồng Chí (Chuẩn)
1. Mở bài:
– Giới thiệu về nhà thơ Chính Hữu và bài thơ Đồng chí.– Dẫn dắt đến vấn đề cần nghị luận: Tình đồng chí thiêng liêng của những người lính.
2. Thân bài:
a. Khái quát chung:
– Bài thơ Đồng chí ra đời năm 1948, sau khi tác giả cùng đồng đội tham gia chiến đấu trong chiến dịch Tây Bắc (thu đông năm 1947).– Bài thơ viết về tình đồng đội, đồng chí cao đẹp, thiêng liêng giữa những người lính trong kháng chiến chống Pháp.
b. Cảm nhận về tình đồng chí thiêng liêng:
* Cơ sở hình thành tình đồng chí (7 câu đầu):
– Có cùng xuất thân:+ Họ đều xuất thân từ những miền quê nghèo “nước mặn đồng chua”, “đất cày lên sỏi đá”.+ Nghe theo tiếng gọi của Tổ quốc, họ quen biết và trở thành những người đồng chí “chẳng hẹn mà quen”.
– Cùng chia sẻ những gian khó trong cuộc sống sinh hoạt và chiến đấu:+ Họ chia sẻ với mọi gian lao, vất vả trong chiến đấu: “Áo anh rách vai, quần tôi có vài mảnh vá”, “đêm rét chung chăn”.+ Kề vai sát cánh trong chiến đấu “súng bên súng đầu sát bên đầu”.→ Những người lính dần trở nên thân thiết, họ trở thành “tri kỉ” của nhau.
* Những biểu hiện của tình đồng chí (10 câu thơ tiếp):
– Sẻ chia những tâm tư tình cảm:+ Gửi lại ruộng nương, nhà cửa cho đồng đội “Ruộng nương anh gửi bạn thân cày”.+ Chia sẻ với nhau nỗi nhớ về quê hương, gia đình “giếng nước gốc đa nhớ người ra lính”.
– Chia sẻ những gian lao, vất vả:+ Những người lính bộ đội cụ Hồ trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp phải chịu đủ mọi sự thiếu thốn về ăn uống, thuốc men, y tế,..+ Cùng nhau trải qua những thiếu thốn, khắc nghiệt của hoàn cảnh: “Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh/ Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi…”+ Hình ảnh “thương nhau tay nắm lấy bàn tay”: biểu hiện cao đẹp, thiêng liêng của tình đồng chí. Đó là cái nắm tay của sự sẻ chia, là lời động viên lẫn nhau.
– Biểu tượng đẹp của tình đồng chí:+ “Đứng cạnh bên nhau”: những người lính kề vai sát cánh trong chiến đấu.+ “chờ giặc tới”: đây là tư thế hiên ngang, chủ động thể hiện quyết tâm đánh giặc của những người lính.+ Hình ảnh “Đầu súng trăng treo” mang ý nghĩa biểu tượng:
Hình ảnh tả thực: Những người lính phục kích giặc trong đêm, mũi súng hướng lên trời, vầng trăng như treo lơ lửng trên mũi súng.
Ý nghĩa biểu tượng: Súng là biểu tượng cho chiến tranh, trăng biểu tượng cho hoà bình: hai hình ảnh đối lập nhưng bổ sung cho nhau, thể hiện hình tượng người lính cùng tình đồng chí cao đẹp.
3. Kết bài:
– Khẳng định giá trị của bài thơ.
II. Bài văn mẫu Cảm nhận về tình đồng chí thiêng liêng giữa những người lính Cách mạng trong bài thơ Đồng Chí (Chuẩn)
Chính Hữu là nhà thơ trưởng thành trong hai cuộc kháng chiến của dân tộc. Chính Hữu có những trang thơ hay viết về những người lính và chiến tranh, trong đó nổi bật nhất có thể kể đến “Đồng chí”. Bài thơ “Đồng chí” được coi là tác phẩm tiêu biểu nhất viết về những người lính cách mạng của văn học kháng chiến những năm 1946 – 1954. Bài thơ là vẻ đẹp chân thực, giản dị của những người lính trong kháng chiến chống Pháp cùng tình cảm đồng chí, đồng đội vô cùng cao đẹp của họ.
Bài thơ “Đồng chí” được nhà thơ Chính Hữu viết năm 1948, sau khi ông cùng đồng đội tham gia chiến đấu trong chiến dịch Việt Bắc (thu đông năm 1947), đánh bại cuộc tiến công lớn của Pháp lên chiến khu Việt Bắc.
Mở đầu bài thơ, Chính Hữu đã chỉ ra những cơ sở hình thành tình cảm đồng chí đồng đội thiêng liêng:
“Quê hương anh nước mặn đồng chuaLàng tôi nghèo đất cày lên sỏi đáAnh với tôi đôi người xa lạTự phương trời chẳng hẹn quen nhauSúng bên súng đầu sát bên đầuĐêm rét chung chăn thành đôi tri kỉĐồng chí!”
Những người lính vốn là những người nông dân chân lấm tay bùn, họ đến từ những miền quê khác nhau, từ nơi “nước mặn đồng chua” đến những vùng quê “đất cày lên sỏi đá” nhưng ở họ đều có chung sự lam lũ, nhọc nhằn, chung cái đói nghèo, vất vả. Chẳng hề có sự chau chuốt, chẳng hề gọt giữa, Chính Hữu đã đem vào trong thơ những hiện thực của cuộc sống của những người dân Việt Nam trong những năm tháng đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Những anh lính bộ đội cụ Hồ đều xuất thân từ những người nông dân áo vải, quen với những cuốc những cày, quen với đồng ruộng, vườn tược. Họ chẳng hề “hẹn” nhau mà chỉ nghe theo tiếng gọi của Tổ quốc để lên đường. Chính điều đó đã là một tiền đề để họ thấu hiểu lẫn nhau, là cơ sở để họ chia sẻ và hình thành lên thứ tình cảm thiêng liêng – tình đồng chí.
Nhưng tình đồng chí của họ không chỉ được làm nên bởi xuất thân áo vải mà nó còn thêm thắm thiết, khăng khít bởi những tháng ngày họ cùng nhau sống và chiến đấu:
“Súng bên súng đầu sát bên đầuĐêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ”
Nơi chiến trường gian khó, khốc liệt, những người lính cùng kề vai sát sát cánh trong chiến đấu “Súng bên súng đầu sát bên đầu”. Đêm trên chiến khu Việt Bắc với gió rét căm căm, chiếc chăn nhỏ chẳng đủ ấm, thế nhưng những người chiến sĩ lại sẻ chia cùng nhau chiếc chăn bé nhỏ ấy “Đêm rét chung chăn”. Và thế là họ trở thành “tri kỉ” của nhau! “Tri kỉ” là từ ngữ thể hiện tình cảm gắn bó, thân thiết của những người bạn, những người bạn tâm giao, họ chia sẻ mọi điều, mọi thứ với nhau. Tình cảm “tri kỉ” của những người lính cụ Hồ nảy nở thật đơn giản nhưng bền chặt vô cùng. Có thể nói rằng cơ sở để hình thành lên tình đồng chí thiêng liêng trong thơ Chính Hữu thật giản dị nhưng cũng thật ấm áp biết bao! Hai tiếng “Đồng chí” bật ra thật tự nhiên nhưng cũng thật xúc động. Câu thơ ngắn gọn nhưng ngân vang mãi trong lòng những người đọc chúng ta. “Đồng chí” tức là đồng lòng đồng chí hướng, chung một mục đích. Tình đồng chí còn bao gồm cả tình bạn, tình giai cấp, tình dân tộc, tình tri kỉ, … Và tình đồng chí ấy được tạo nên từ những con người vì dân vì nước mà quên đi thân mình. Câu thơ chỉ gồm hai chữ thế nhưng lại chứa chan bao nhiêu là cảm xúc chân thành!
Từ cơ sở hình thành tình cảm đồng chí, những biểu hiện của tình cảm ấy được thể hiện thật rõ ràng trong những câu thơ tiếp theo:
“Ruộng nương anh gửi bạn thân càyGian nhà không mặc kệ gió lung layGiếng nước gốc đa nhớ người ra lính”
Những người lính trong chiến dịch Việt Bắc năm nào đều là những người chiến sĩ xuất thân từ tầng lớp nông dân. Mà với người nông dân, “ruộng nương”, nhà cửa là những thứ tài sản quan trọng nhất của họ. Vậy mà khi nghe thấy tiếng gọi toàn quốc cùng kháng chiến, họ sẵn sàng “gửi” lại những mảnh ruộng, những khu nương rẫy để lên đường theo tiếng gọi của Tổ quốc. Hai từ “mặc kệ” thể hiện sự quyết tâm cao độ và tư thế dứt khoát của những người lính khi lên đường làm nhiệm vụ. Tình yêu nước, tinh thần xả thân cao đẹp của những người lính gợi cho chúng ta liên tưởng đến những người chiến sĩ vệ quốc xưa, đó là những bậc anh hùng đầu đội trời, chân đạp đất coi cái chết nhẹ tựa hồng mao. Những người lính ra đi quyết tâm là thế nhưng trong tâm trí của họ, quê hương “giếng nước gốc đa” vẫn là thứ mà họ lưu luyến vô cùng. Chính Hữu đã sử dụng biện pháp nhân hoá ở đây, nhân hoá những cảnh vật quê hương đang “nhớ” thương những người lính xa nhà. Nhưng thực chất đó là nỗi nhớ về gia đình, về quê hương của những người chiến sĩ khi phải rời xa quê hương vì nhiệm vụ của Tổ quốc.
Trong những ngày tháng gian lao, những người chiến sĩ đã chia sẻ những gian khổ, vất vả trên chặng đường chiến đấu:
“Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnhSốt run người vầng trán ướt mồ hôiÁo anh rách vaiQuần tôi có vài mảnh váMiệng cười buốt giáChân không giày”
Đây chính là hiện thực cuộc sống trong những năm tháng chiến tranh chống Pháp, về sự thiếu thốn vật chất, thiếu thốn những thuốc thang, y tế, trang thiết bị cho người lính chiến đấu. Ở nơi “rừng thiêng nước độc”, những người lính phải chịu đựng những cơn sốt rét hành hạ, chịu đựng sự kham khổ khi thiếu thốn nhiều thứ thiết yếu. Chính Hữu đã tái hiện hết sức chân thực hoàn cảnh sống của những người lính bộ đội cụ Hồ khi ấy, về những trận sốt rét “ớn lạnh”, “vầng trán ướt mồ hôi”, về cảnh “không giày”, áo quần chiến đấu “có vài mảnh vá”. Cấu trúc “anh – tôi” lại được lặp lại như để khẳng định sự sẻ chia mọi gian khó cùng nhau. Trong gian khổ, tình đồng đội, đồng chí càng trở nên thắm thiết, cao đẹp, họ vẫn hiên ngang mỉm cười để xua tan đi cái giá rét đêm đông. Hình ảnh đặc biệt “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay” đã thể hiện sâu sắc, cảm động tình đồng chí của những người lính chống Pháp. Trong giá rét, họ “nắm” lấy tay nhau, truyền cho nhau hơi ấm, động lực, sức mạnh để vững vàng tay súng bảo vệ quê hương.
Khép lại bài thơ là biểu tượng cao đẹp của tình đồng chí:
“Đêm nay rừng hoang sương muốiĐứng cạnh bên nhau chờ giặc tớiĐầu súng trăng treo”
Trên nền hiện thực khắc nghiệt của “rừng hoang sương muối”, những người lính vẫn hiện lên với tư thế hiên ngang làm chủ. Họ “đứng cạnh bên nhau”, nắm chắc tay súng, cùng nhau “chờ giặc tới”. Còn hình ảnh nào đẹp hơn thế nữa chăng? Hình ảnh đó với tư thế hiên ngang thành đồng ấy đã khiến mọi gian khổ, mọi khó khăn lu mờ trước tình đồng chí cao đẹp ấy. Hình ảnh kết thúc bài thơ là chi tiết biểu tượng cho cái đẹp của tình đồng chí:
“Đầu súng trăng treo”
“Đầu súng trăng treo” là hình ảnh tả thực về những đêm phục kích giặc của những người lính, mũi súng trên vai hướng lên bầu trời, cùng vầng trăng lơ lửng trên không trung như đang treo trên mũi súng. Đó còn là hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng, “súng” là biểu tượng cho chiến tranh còn “trăng” lại biểu tượng cho hòa bình. Hai hình ảnh đối lập nhau nhưng lại bổ sung cho nhau để làm sáng rõ lên hình tượng người lính cùng tình đồng chí thắm thiết của họ. Nhịp thơ 2/2 cũng góp phần tạo nên thành công cho hình tượng này. Giữa hiện thực chiến tranh tàn khốc và ác liệt nhưng tâm hồn người lính vẫn bay bổng, lãng mạn bởi họ có trong lòng tình đồng chí thắm thiết, ấm áp, yêu thương.
Với thể thơ tự do cùng nhịp thơ linh hoạt cùng với các biện pháp nhân hoá, so sánh, …, bài thơ Đồng chí của nhà thơ Chính Hữu đã xây dựng thành công hình ảnh của những người lính bộ đội cụ Hồ trong những năm tháng đầu kháng chiến chống Pháp. Đồng thời bài thơ đã ca ngợi tình cảm đồng chí gắn bó keo sơn của họ. Thi phẩm này đã góp phần làm nên nền thơ ca kháng chiến thời kì 1946 – 1954 thành công rực rỡ.
————-HẾT————–
https://thuthuat.taimienphi.vn/cam-nhan-ve-tinh-dong-chi-thieng-lieng-giua-nhung-nguoi-linh-cach-mang-trong-bai-tho-dong-chi-69428n.aspx Để tìm hiểu thêm về tác phẩm Đồng chí của nhà thơ Chính Hữu cũng như hình tượng người lính cách mạng thời kì đầu kháng chiến chống Pháp, mời các bạn cùng tham khảo thêm các bài viết rất hay khác như: Phân tích 7 câu thơ đầu trong bài thơ Đồng chí, Đóng vai người lính kể lại bài thơ Đồng Chí, Phân tích hình ảnh người lính trong bài Đồng chí, Thuyết minh về bài thơ Đồng chí của Chính Hữu.

#Cảm #nhận #về #tình #đồng #chí #thiêng #liêng #giữa #những #người #lính #Cách #mạng #trong #bài #thơ #Đồng #Chí


#Cảm #nhận #về #tình #đồng #chí #thiêng #liêng #giữa #những #người #lính #Cách #mạng #trong #bài #thơ #Đồng #Chí

Blog Tiền Điện Tử

Back to top button