Giáo Dục

Cảm nhận về 8 câu thơ cuối bài Trao duyên

Để có thêm những gợi ý hay cho bài Cảm nhận về đoạn Trao duyên, đặc biệt là cảm nhận 8 câu thơ cuối bài Trao duyên, các em có thể tham khảo dàn ý và bài văn mẫu chúng tôi giới thiệu dưới đây.

Đề bài: Anh/chị hãy trình bày Cảm nhận về 8 câu thơ cuối bài Trao duyên

Mục Lục bài viết:
1. Dàn ý chi tiết
2. Bài mẫu số 1
3. Bài mẫu số 2
4. Bài mẫu số 3
5. Bài mẫu số 4
6. Bài mẫu số 5

Cảm nhận về 8 câu thơ cuối bài Trao duyên
 

I. Dàn ý Cảm nhận về 8 câu thơ cuối bài Trao duyên (Chuẩn)

1. Mở bài

Giới thiệu về đoạn trích Trao duyên và 8 câu cuối đoạn trích.

2. Thân bài

a. Cảm nhận về nỗi đau đớn, tuyệt vọng của Thúy Kiều sau khi trao duyên cho em
– Hoàn cảnh: Kiều nghĩ về thực tại đầy đau đớn của mình:
+ “Trâm gãy gương tan”: cảnh đôi lứa chia chìa, hạnh phúc vỡ tan.
+ “Tơ duyên ngắn ngủi”: hạnh phúc ngắn ngủi, sớm nở chóng tàn.
+ “Phận bạc như vôi”: mệnh bạc, số phận hẩm hiu.
+ “Nước chảy hoa trôi”: cuộc đời lênh đênh, chìm nổi, lỡ làng…(Còn tiếp)

>> Xem chi tiết Dàn ý Cảm nhận về 8 câu thơ cuối bài Trao duyên tại đây.
 

II. Bài văn mẫu Cảm nhận về 8 câu thơ cuối bài Trao duyên

1. Cảm nhận về 8 câu thơ cuối bài Trao duyên, mẫu số 1 (Chuẩn)

Đoạn trích Trao duyên trong Truyện Kiều đã cho thấy bút pháp rất mực tài hoa của Nguyễn Du trong việc khắc họa sâu sắc nội tâm nhân vật. Qua trích đoạn,  ta càng thấu hiểu, thương cảm cho cho số phận truân chuyên, bạc mệnh của Thuý Kiều. Tám câu cuối bài thơ là đoạn thơ đầy ấn tượng khi tái hiện đầy xót xa tâm trạng đau đớn, tuyệt vọng của Thúy Kiều.

Sau khi cậy nhờ em thay mình chắp mối “duyên thừa” cùng Kim Trọng, Thúy Kiều đã đau đớn mà bộc lộ lòng mình. Đó là nỗi tuyệt vọng,  khổ đau lên đến tột cùng khi phải buông tay với mối tình đẹp đẽ với chàng Kim.

” Bây giờ trâm gãy gương tan
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân”

Trạng ngữ xác định thời gian “bây giờ”  chỉ thực tại đau đớn mà Kiều đang đối mặt, chịu đựng, đó là nỗi đau khắc sâu vào tâm khảm khi chứng kiến tình duyên tan vỡ, chữ tình chưa hề phai nhạt nhưng vì biến cố mà rơi vào cảnh chia lìa không gì có thể hàn gắn “trâm gãy gương tan”. Tác giả sử dụng khéo léo thành ngữ “trâm gãy gương tan” để ẩn dụ cho mối tình đẹp đẽ nhưng mong manh của Kim- Kiều.

Tình yêu Kiều dành cho Kim càng chân thực, mãnh liệt, lớn lao bao nhiêu thì nỗi đau mà nàng đang gánh chịu lại xót xa bấy nhiêu. Trâm đã gãy, bình đã tan, tình yêu nào có thể chắp vá được nữa, hy vọng gắn kết mối tình xưa cũng không còn. Kiều đau đớn nghĩ về giây phút hạnh phúc “muôn vàn ái ân” của hai người trước đây. Đó là những kỉ niệm thắm thiết, những kí ức nồng đượm mà cả Kim và Kiều có được. Đêm trăng thề nguyện hẹn ước, uống chén rượu hồng hẹn ước trăm năm, thưởng ánh trăng vàng, ngâm thơ, đàn hát,… Tất cả những hạnh phúc lớn lao trước đây đều trở thành dĩ vãng,  tan biến trong hư vô khi tình chưa cạn mà buộc phải chia  xa. 

Tiếc thương cho tình yêu không trọn, nghĩ về Kim Trọng , Kiều trách móc bản thân mình phụ bạc chàng, lời dằn vặt  nghẹn lòng cất lên:

“Trăm nghìn gửi lạy tình quân
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi”

Xuyên suốt cuộc đời Kiều qua từng trang thơ của Nguyễn Du ta đều biết Kiều là một người sống tình nghĩa, nàng chưa từng phụ bạc một ai. Hơn nữa, Kiều cũng luôn dành hết những điều tốt đẹp cho người mà mình yêu thương, tin tưởng. Nàng đánh đổi hạnh phúc đời mình để tròn chữ hiếu “phận làm con trước phải đền ơn sinh thành”, không còn cách nào khác nàng đành phụ tấm chân tình cùng mối lương duyên tốt đẹp với Kim Trọng. Trong thâm tâm nàng luôn day dứt và tự trách móc vì cho rằng mình đã bội ước với Kim Trọng. Hành động “trăm nghìn gửi lạy” cùng lời tha thiết, cảm thán “Tơ duyên ngắn ngủi, có ngần ấy thôi” là lời tạ lỗi đầy day dứt, xót xa dành cho chàng Kim. Phải là một người yêu thương, trân trọng tình yêu thiêng liêng với Kim Trọng nhiều đến thế nào Kiều mới tự trách móc, dằn vặt chính mình đến như thế?

Sau những tỏ bày gửi chàng Kim là lời Kiều than trách cho phận mình bạc bẽo, sự tự ý thức về thân phận mình đã cho thấy Kiều là một người thấu hiểu lẽ đời, đó cũng là một dự cảm của nàng về tương lai không mấy êm ả trong cuộc đời mình:

“Phận sao phận bạc như vôi.
Đã đành nước chảy hoa thôi lỡ làng”

Lời kêu than đầy uất ức về nỗi đau thân phận như một biểu hiện đầy tự nhiên khi nỗi xót xa lên đến đỉnh điểm trong Kiều. Các thành ngữ “bạc như vôi”, “nước chảy hoa trôi” như một lời thở than, trách móc uất nghẹn của Kiều trước cuộc đời bất công, trước một xã hội tàn nhẫn đã đẩy nàng vào bế tắc, khổ đau, tuyệt vọng. Chấp nhận “đã đành” cho “nước chảy hoa trôi” cũng là sự cam chịu, là biểu hiện về  đức hi sinh của người con gái trước những sóng gió cuộc đời. Và phải chăng, điều đó như báo hiệu một tương lai mờ mịt, một số phận bạc mệnh của nàng. 

Hai tiếng “Kim Lang” tha thiết chứa chan biết bao yêu thương, trân trọng mà Kiều dành cho Kim Trọng. Điệp ngữ “Kim Lang” kết hợp với thán từ “Ôi”, ” Hỡi” cùng nhịp thơ 3/3 như tiếng gào thét tâm can của Kiều. Từng tiếng thơ thốt lên nghẹn ngào, đau xót, đượm màu nước mắt, nhuốm vị thương đau. Lời từ biệt cuối của người con gái thủy chung, trọng nghĩa trọng tình ấy mang cả nỗi luyến tiếc,  đớn đau đến tận cùng:

“Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây”

Tám câu thơ cuối trích đoạn tuy không dài nhưng ta vẫn cảm nhận được bao phẩm chất tốt đẹp nơi Kiều. Đó là lòng chung thuỷ, nhân ái, là sự ý thức thân phận và một trái tim khát khao hạnh phúc sâu thẳm trong Kiều. Qua tám câu thơ, giá trị nhân đạo mà Nguyễn Du gửi gắm cũng được thể hiện rõ. Đó là lời lên án xã hội phong kiến đầy bất công đã đẩy con người vào những bi kịch đớn đau. Là tiếng nói thương cảm trước những số phận bạc mệnh như Kiều và bày tỏ niềm trân trọng trước những phẩm chất, tình cảm tốt đẹp của con người trong xã hội. Mặt khác, thành công về nghệ thuật cũng là một điểm nhấn đầy ấn tượng trong đoạn thơ. Đó là bút pháp miêu tả nội tâm tính tế, nghệ thuật  độc  thoại nội tâm, so sánh, ẩn dụ, sử dụng kết hợp các thành ngữ dân gian cùng thề thể thơ lục bát quen thuộc tất cả đã làm nên một đoạn thơ đầy trọn vẹn và ý nghĩa. 

Trao duyên nói chung và tám câu cuối trích đoạn nói riêng đã góp phần mình vào  sự thành công của tuyệt tác Truyện Kiều. Tin rằng, trong tương lai, Trao duyên cùng với Truyện Kiều sẽ vẹn nguyên giá trị lâu bền, được bao thế hệ đọc giả trân trọng và giữ gìn.
 

2. Cảm nhận về 8 câu thơ cuối bài Trao duyên, mẫu số 2 (Chuẩn)

Đại thi hào Nguyễn Du đã để lại một di sản văn hóa vô cùng to lớn, là kiệt tác của văn học trung đại Việt Nam – Truyện Kiều. Trong mỗi đoạn trích của tác phẩm, thông qua nhân vật Thúy Kiều tác giả đã lan tỏa cả những giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo trong từng câu thơ. Đặc biệt là trong đoạn trích Trao duyên – một đoạn trích tiêu biểu, cao trào cho bi kịch của cuộc đời Thúy Kiều, tám câu thơ cuối được ví như lời oán thán, tiếng thét không nên lời của một kiếp người nhỏ bé đành cam chịu sự an bài của số phận.

Sau khi thuyết phục em gái mình là Thúy Vân chấp nhận mối nhân duyên với Kim Trọng, Thúy Kiều đem trao hết tất cả những kỉ vật giữa nàng và Kim Trọng cho Thúy Vân và dặn dò em bằng những lời tự tận đáy lòng. Thúy Kiều trong lúc đau đớn, xót xa đã bất giác quên đi việc đang trò chuyện với em mà chuyển sang độc thoại nội tâm, đó là khi nàng nhớ về Kim Trọng. Tám câu thơ dưới đây là tiếng than oán xé lòng và lời từ biệt đầy đau thương của Kiều dành cho tình quân của mình.

“Bây giờ trâm gãy gương tan,
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!
Trăm nghìn gửi lạy tình quân
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi.
Phận sao phận bạc như vôi?
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.
Ôi Kim Lang! Hỡi Kim Lang”
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!”

Có thể thấy, trong tám câu thơ trên đã có đến năm câu cảm thán, trước mắt người đọc là hình ảnh của một cô gái tài sắc vẹn toàn nhưng số phận đưa đẩy đến bước “đoạn trường” đang ngồi sụp xuống buông xuôi tất cả. Lời thơ của Thúy Kiều đầy đau đớn, chạm tới sự rung cảm của người đọc. “trâm gãy gương tan” ám chỉ cho mối tình đã tan vỡ, tan vỡ theo cách không thể nào hàn gắn hay lành lại được nữa. Đây sẽ là sự chia ly vĩnh viễn, không thể cứu vãn được nữa rồi. Ấy vậy mà trước đó nàng và chàng Kim đã có mối tình đẹp biết bao “muôn vàn ái ân” với bao kỉ niệm và kỉ vật trao nhau. Bây giờ tất cả đều không còn ý nghĩa gì nữa, nàng phải rũ bỏ hết, tự mình chối bỏ tình cảm ấy để trọn hiếu nghĩa với mẹ cha. 

Đối với Kim Trọng, người “tình quân” của nàng đã tin yêu nàng hết lòng, cho đến bây giờ lại không thể cùng nàng trọn nghĩa phu thê, đó là điều khiến Thúy Kiều day dứt và đau đớn nhất. Nàng không biết làm thế nào để tạ lỗi với Kim Trọng, chỉ còn biết “trăm nghìn gửi lạy”, gửi cái lạy tạ lỗi với tấm chân tình của chàng Kim, đây là cái lạy cho sự bái biệt đầy thiêng liêng cho thấy Thúy Kiều rất trân trọng và chân thành với mối tình này. Chỉ mong rằng Kim Trọng hiểu được nỗi lòng, số phận và hoàn cảnh của mình mà chấp nhận se duyên với em gái. Thúy Kiều đã phải than oán về số phận với hàng loạt thành ngữ như “tơ duyên ngắn ngủi”, “phận bạc như vôi”, “hoa trôi lỡ làng”, ám chỉ cho số phận hẩm hiu, bạc bẽo, trôi nổi của Thúy Kiều. Nàng Kiều ý thức được số mình đầy đau khổ, lênh đênh dang dở, nếu như quá khứ đầy yêu thương, muôn vàn ái ân bao nhiêu thì bây giờ là thực tại đầy đau khổ, bẽ bàng bấy nhiêu, số phận nàng đã được an bài như vậy. 

Không còn là những người lặng lẽ cam chịu, câm nín chịu đựng số phận, nhân vật Thúy Kiều của Nguyễn Du đã bứt phá ra khỏi những định kiến xã hội đương thời, dám kêu lên tiếng xót xa, không ngại oán than cho cuộc đời và số phận. Mặc dù chẳng thể thay đổi nhưng ít ra điều đó thể hiện rằng Thúy Kiều là một người thấu hiểu lý lẽ, trọn tình trọn nghĩa. Đặt mình trong hoàn cảnh buộc phải chọn lựa giữa gia đình và tình yêu nàng đã chọn hy sinh tình yêu để bán thân cứu lấy cha mẹ. Tiếng gọi chàng Kim “Ôi Kim Lang! Hỡi Kim Lang” là tiếng gọi da diết, nghẹn ngào, có phần đau đớn trong tuyệt vọng, ta có thể hình dung ra Thúy Kiều đã trở thành một người vô hồn, đau đớn đến tận cùng. “Thôi thôi” như là sự kết thúc, không còn hy vọng, không còn gì để chờ đợi, phải chấp nhận sự thật nghiệt ngã này. Đến đây là kết thúc tình yêu này, và Thúy Kiều đã chấp nhận mình là người phụ bạc, không thể chối cãi tình cảm nàng dành cho Kim Trọng là tha thiết, chân thành nhưng chữ hiếu đã buộc nàng chọn hy sinh tình yêu, nàng không có lựa chọn khác. Tuy đã nhờ được Thúy Vân gánh vác mối nhân duyên này nhưng sâu trong thâm tâm của Thúy Kiều không được thanh thản, nàng đau khổ, than thân trách phận và oán thán cuộc đời bất công với mình. Mặc dù cuộc đời của Kiều đau khổ nhưng lại toát lên nhân cách sáng ngời, nàng vẫn luôn đòi hỏi về thân phận, tình yêu đôi lứa nhưng cũng không quên đi đạo nghĩa làm con.

Qua đoạn trích Trao duyên, chúng ta cảm nhận được Thúy Kiều không chỉ là một hình tượng nghệ thuật, một số phận được sáng tạo bởi bàn tay tài hoa của đại thi mà nàng rất gần với một con người thực, với một nhân cách tự nhiên nhiều chiều. Tình cảm, nỗi đau và sự hy sinh của Thúy Kiều khiến chúng ta không ngừng nghĩ về chính bản thân mình giữa cuộc đời, cảm thông cho sự đắng cay, bạc bẽo của số phận nàng Kiều.
 

3. Cảm nhận về 8 câu thơ cuối bài Trao duyên, mẫu số 3 (Chuẩn)

Trong văn học trung đại, sự ý thức về thân phận con người, cũng như tấm lòng thương cảm, xót xa cho những số kiếp bạc bẽo, dường như còn hạn chế và không phải là một trong những đề tài được nhiều văn nhân, thi sĩ lựa chọn. Tuy nhân vượt ra ngoài khuôn khổ ấy, ta vẫn thấy Nguyễn Du – đại thi hào của dân tộc, dù sống dưới chế độ phong kiến hà khắc, sự chênh lệch về tầng lớp giàu nghèo rõ rệt, cũng như quan niệm trọng nam khinh nữ vẫn còn đang rất nặng nề. Thế nhưng tư tưởng của ông lại đi trước thời đại đến tận vài trăm năm, ông không chỉ xót thương, thông cảm có số phận con người, đặc biệt là những phận hồng nhan lắm truân chuyên mà còn có cái nhìn thực tinh tế, nhân đạo, khi khẳng định và đề cao giá trị của người phụ nữ bao gồm cả nhan sắc và trí tuệ. Đồng thời cũng thông qua đó kín đáo lên án sự bất công, thối nát của chế độ phong kiến, đã đẩy những kiếp người nhỏ bé, dù mang trong mình nhiều phẩm giá tốt đẹp cuối cùng cũng vẫn phải chịu cảnh vùi dập đớn đau. Truyện Kiều được xem là một kiệt tác trong nền văn học trung đại, cũng như toàn bộ nền văn học Việt Nam, với tầm ảnh hưởng sâu rộng và hai trường giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo được thể hiện thông qua những câu thơ có âm vần, thanh điệu uyển chuyển, kể về cuộc đời người con gái tài sắc Thúy Kiều. Trong trích đoạn Trao duyên, sau khi bi kịch đổ xuống Thúy Kiều buộc phải trưởng thành để gánh vác gia đình, không chỉ bán mình làm lẽ để lấy tiền chuộc cha và em, Kiều còn phải dứt tình với Kim Trọng đồng thời trao duyên cho em gái, điều này đã để lại trong lòng nàng những tổn thương và nỗi đau đớn đoạn trường. Điều đó được bộc lộ rất rõ trong 8 câu thơ cuối của đoạn trích Trao duyên, những câu thơ được ví như tiếng thét câm lặng, lời oán than ngập tràn nước mắt cho một kiếp người long đong.

Tình yêu của Thúy Kiều và Kim Trọng là một mối tình đẹp, đẹp bởi sự xứng lứa vừa đôi, trong khi Thúy Kiều tài sắc vẹn toàn “Sắc đành đòi một tài đành họa hai”, thì Kim Trọng cũng là người học thức sâu rộng, gia đình nền nếp, gia giáo, diện mạo khôi ngô tuấn tú. Chính lẽ ấy, họ dường như đã hiểu lòng nhau ngay từ những lần gặp đầu tiên, không chỉ đơn giản là tình yêu mà còn là tình tri kỷ. Đặc biệt trong Truyện Kiều Nguyễn Du cũng có cái nhìn khá phóng khoáng và táo bạo, khi viết về chuyện tình của Kim Trọng với Thúy Kiều. Ông đề cao sự tự do trong tình yêu đôi lứa, khi để cả hai tự định chung thân, thề nguyền với nhau, rồi cảnh Kiều nhân lúc cha mẹ về thăm quê, đã sang nhà Kim Trọng để hẹn thề với người thương. Những chi tiết ấy, có thể rằng đã trở nên mất lễ giáo, thiếu quy tắc trong xã hội cũ, tuy nhiên dưới cái nhìn của Nguyễn Du, nhân vật Thúy Kiều và tình yêu của nàng phải có gì đó khác biệt và ấn tượng, hơn hết ông muốn tạo ra cho nhân vật của mình sự tự do không chỉ về thể xác mà cả về tâm hồn, đó chính là tiến bộ của Nguyễn Du trong tư tưởng nhân đạo, yêu thương con người. Quay trở lại với trích đoạn Trao Duyên, người ta thấy được một Thúy Kiều thông minh, sắc sảo và quyết tuyệt khi từng bước thuyết phục Thúy Vân giúp mình nối duyên với Kim Trọng. Sau khi mọi chuyện đã được dàn xếp ổn ổn thỏa, thì ngay lúc này đây Kiều đã chẳng thể giữ được dáng vẻ cứng rắn, bình tĩnh, sự khéo léo bình ổn nữa, nàng trở về với dáng vẻ yếu đuối, bộc lộ những đớn đau tột cùng trong lòng mình trước sự tan vỡ của tình yêu, trước nỗi đau thân phận. Mà đọc những câu thơ cuối người ta như hình dung được hình ảnh một cô gái sụp xuống, bất lực với dòng lệ tuôn rơi, đôi mắt thẫn thờ, tuyệt vọng.

“Bây giờ trâm gãy bình tan,
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!
Trăm nghìn gửi lạy tình quân
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi.
Phân sao phận bạc như vôi?
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.
Ôi Kim Lang! Hỡi Kim lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!”

Thúy Kiều nghĩ về chuyện tình của mình bằng lời thơ đầy đau đớn “Bây giờ trâm gãy bình tan”, mấy chữ “trâm gãy bình tan”, là chỉ sự tan vỡ không thể hàn gắn, là sự chia ly không lối thoát của nàng và Kim Trọng, Kiều hiểu rằng lần chia ly này có lẽ sau này gặp lại tình cảm cũng chẳng còn như xưa, bởi lẽ trâm đã gãy thì keo nào có thể gắn liền, bình đã tan thì làm sao còn có thể chắp vá. Dù có cố gắng thêm nữa người ta cũng chỉ có thể nhìn thấy cảnh sứt sẹo dày đặc. Có thể nói rằng câu thơ này không chỉ bộc lộ sự tuyệt vọng của Thúy Kiều trước sự tan vỡ của tình yêu mà còn là những dự cảm về chuyến tương phùng sau 15 năm đằng đẵng nhớ thương, cuối cùng nàng và Kim Trọng cũng chỉ có thể “Duyên đôi lứa cũng là duyên bạn bầy”. 

Đến câu thơ tiếp “Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!”, chính là lúc Thúy Kiều hồi tưởng lại những ký ức tốt đẹp, ngọt ngào của nàng với Kim Trọng, những đêm “quạt ước chén thề”, thưởng trăng, ngâm thơ, đàn hát, những tưởng cuộc sống tươi đẹp ấy sẽ kéo dài vĩnh viễn, nhưng ngờ đâu biến cố ập tới, tất cả những mộng ước đều tan biến thành hư vô. Sự tổn thương, hụt hẫng trong tình cảm, đặc biệt là ở người con gái trong mối tình đầu thường sâu sắc và đau đớn vô cùng. Nỗi đau này càng được nhân lên khi Kiều bị buộc phải giữ lý trí từ bỏ hạnh phúc của bản thân để cứu gia đình. Như vậy những kỷ niệm trước kia của nàng và Kim Trọng càng đẹp càng hạnh phúc bao nhiêu, thì giờ lại càng làm lòng nàng tan nát bấy nhiêu. Không chỉ dừng lại ở nỗi đau tan vỡ tình yêu, Kiều cò phải chịu cảnh giày vò khi trở thành người phụ bạc, rời bỏ người yêu để đi lấy chồng, dù rằng bản thân nàng cũng là bất đắc dĩ. Thúy Kiều đã bộc lộ lòng day dứt, hối lỗi trong hai câu “Trăm ngàn gửi lạy tình quân/Tơ duyên ngắn ngủi có từng ấy thôi”, thấu hiểu cuộc đời Kiều ta chưa bao giờ thấy nàng có lỗi, hay sống lỗi lầm với một ai, Kiều luôn cố gắng vẹn toàn với tất cả những người mà nàng yêu mến trân trọng. Thế nhưng đối với Kim Trọng, nàng vẫn luôn cảm thấy tự trách vì sự bội ước của mình, dù rằng Kiều cũng đã cố trả duyên cho chàng Kim bằng việc trao duyên cho Vân. Sự tự trách của Kiều trước hết xuất phát từ việc nàng tự quyết định từ bỏ tình yêu của mình với tình quân, thứ hai là xuất phát từ những tình cảm sâu sắc, sự trân trọng của Kiều dành cho chàng Kim. Phàm là ai khi đối diện với người mình rất mực quan tâm, dù chỉ một chút tổn thương đối với người kia cũng làm họ không yên, bứt rứt. Trong câu thơ “Trăm nghìn gửi lạy tình quân” chữ “lạy” của Kiều chính là lời xin lỗi sâu sắc và đầy day dứt, là sự bái biệt đầy thiêng liêng với tình yêu, với người yêu đang còn ở quê xa của nàng. Bởi lẽ mai đây nữa thôi, khi Kim Trọng trở lại, chờ đón chàng chính là cảnh không từ mà biệt của Thúy Kiều, Kiều hiểu được nỗi đau đớn và bàng hoàng ấy, nhưng cũng chẳng còn cách nào khác nữa. Đồng thời hai câu thơ này cũng thể hiện sự trân trọng, tấm lòng chân thành của Thúy Kiều đối với Kim Trọng, nàng tự thấy mình đã phụ bạc, nên chỉ đành bái lạy, tự đặt mình ở vị thế dưới, xem như lời tạ lỗi to lớn nhất, hy vọng rằng Kim Trọng có thể hiểu cho những nỗi khổ tâm khi phải lựa chọn giữa chữ tình chữ hiếu của nàng.

“Tơ duyên ngắn ngủi có từng ấy thôi”

Câu thơ  chính là sự bất lực đến tuyệt vọng của Thúy Kiều khi nàng phải chấp nhận dằn lòng quên đi mối tình đậm sâu với chàng Kim, mối duyên dẫu ngắn ngủi nhưng đẹp như ánh trăng rằm, mà có lẽ cả đời Kiều chẳng thể nào quên được. Sau những lời tâm tình đau xót về tình duyên, Kiều quay lại với sự tự ý thức về nỗi đau thân phận “Phận sao phận bạc như vôi? Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng”. Vì quá đau đớn, vì sự tủi nhục đang dồn nén, Kiều đã không thể chịu đựng mà thốt lên lời oán than cho số phận bất hạnh bạc trắng như vôi của mình. Nghĩ đến chuyện một thiếu nữ độ 15, 16 tuổi đời, nhưng trong lời than, trong ý thức lại nhiều chua xót như thế, đủ hiểu nàng đã phải chịu đựng những áp lực tâm lý to lớn đến nhường nào. 

Không chỉ vậy sự tự ý thức về nỗi đau thân phận còn chính là biểu hiện của sự thông minh, thấu hiểu lý lẽ của Thúy Kiều. Nếu những hồng nhan xưa âm thầm chịu đựng, thì đến với thơ của Nguyễn Du người phụ nữ đã biết oán than, kêu lên những tiếng xót xa, để phản ánh sự hiện thực xã hội, cũng như là việc họ cần một lối thoát, dù rằng điều đó là khó có thể xảy ra. Mấy chữ “nước chảy hoa trôi” chính là dự cảm không lành về một cuộc đời lênh đênh, không biết sẽ trôi dạt về phương nào của Thúy Kiều, nàng đang chìm trong cảm giác mất phương hướng và chông chênh đến vô cùng, cũng là ẩn ý của tác giả về những sóng gió phía trước đang đón đợi người con gái đáng thương, bạc mệnh. 

“Ôi Kim Lang! Hỡi Kim lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây”

Hai câu thơ cuối chính là lời từ biệt đầy xót xa, đau đớn của Thúy Kiều dành cho Kim Trọng người mà nàng đã bội ước, cũng thể hiện tình yêu sâu sắc, tấm lòng thủy chung, nỗi tiếc nuối khôn nguôi khi chuyện tình yêu đứt gánh giữa đường, không còn cách vãn hồi. Trong tiếng kêu khóc, đau đớn tuyệt vọng ấy, người ta dường như thấy nước mắt nhuộm đầy từng câu chữ, nỗi đau đoạn trường day dứt đầy ám ảnh. Không khỏi khiến người đọc trăn trở về số phận của Thúy Kiều, vì nông nỗi nào mà một người con gái vốn có tất cả trong tay lại bỗng chốc rơi và đường cùng, tuyệt lộ, phải chịu cảnh đớn đau chia lìa, sự tủi nhục uất ức đến như vậy.

Có thể thấy rằng, Thúy Kiều là người con gái dường như có tất cả, nhưng cũng là người phải gánh chịu đủ mọi đau đớn trên cuộc đời ứng với câu mở đầu Truyện Kiều rằng “Trăm năm trong cõi người ta/Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau”. Trong những câu thơ cuối của trích đoạn Trao duyên, người ta thấy hiện lên hình ảnh một người con gái đang phải đối diện với nỗi đau đớn đoạn trường, khi buộc phải từ bỏ tình yêu, buộc phải làm trái lời thề ước vì hai chữ hiếu đạo. Bên cạnh đó còn là nỗi tuyệt vọng, bất lực của Thúy Kiều khi đứng trước biến cố của cuộc đời, mà bản thân nàng không đủ sức để chống chọi, cuối cùng phải chấp nhận cảnh long đong theo dòng đời xô đẩy, chẳng biết dạt về đâu, bạc bẽo đến vô cùng.
 

4. Bài văn Cảm nhận về 8 câu thơ cuối bài Trao duyên, mẫu số 4 (Chuẩn)

“Truyện Kiều” – kiệt tác nổi tiếng của đại thi hào Nguyễn Du đã tái hiện thành công cuộc đời nhân vật Thúy Kiều – người con gái tài sắc vẹn toàn nhưng cuộc đời gặp nhiều trái ngang, sóng gió. Trích đoạn “Trao duyên” là một trong những minh chứng tiêu biểu thể hiện bi kịch tình yêu tan vỡ, số phận bất hạnh của Thúy Kiều cùng tài năng của Nguyễn Du khi xây dựng, khắc họa tâm lí nhân vật. Sau khi “trao duyên”, nàng Kiều chìm sâu trong thế giới khổ đau của chính mình, nàng nhớ đến Kim Trọng và mối tình còn dang dở. Thông qua tám câu thơ cuối, chúng ta có thể thấy được sự ý thức của Thúy Kiều về thực tại cùng tiếng lòng khắc khoải, thống thiết của nàng dành cho Kim Trọng:

“Bây giờ trâm gãy gương tan,
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!
Trăm nghìn gửi lạy tình quân,
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi!
Phận sao phận bạc như vôi!
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.
Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!”

Sau khi trao kỉ vật tình yêu, dặn dò Thúy Vân và chìm sâu vào dòng độc thoại nội tâm, Kiều nhận ra bi kịch phũ phàng của thực tại và tâm sự với Kim Trọng trong nỗi tuyệt vọng. Nàng ý thức rất rõ về quá khứ, hiện tại và tương lai. Những thành ngữ “trâm gãy gương tan”, “phận bạc như vôi”, “nước chảy hoa trôi” đã diễn tả sự tan vỡ, dở dang, bạc bẽo, trôi nổi của tình duyên và số phận con người:

“Bây giờ trâm gãy gương tan
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân”

“Trâm gãy gương tan” – hai vật hoán dụ cho số phận của nàng Kiều, hoán dụ cho tình duyên lỡ dở, hoán dụ cho số phận bất hạnh, khổ đau. “Phận bạc như vôi” để thể hiện số phận mong manh, bạc bẽo. Bên cạnh đó, “nước chảy hoa trôi” đã nhấn mạnh vào sự lênh đênh, chìm nổi giữa sóng gió cuộc đời. Những câu thơ đã gợi lên số phận chung của những kiếp “hồng nhan bạc mệnh” về người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Danh từ chỉ thời gian “Bây giờ” vang lên đầy xót xa, nhấn mạnh sự đối lập giữa quá khứ – những năm tháng “Êm đềm trướng rủ màn che” cùng tình yêu đầu đời đẹp như hoa như mộng và hiện tại chia lìa, tan vỡ. Miền kí ức “muôn vàn ái ân” không thể đong đếm đã lùi xa vào tiềm thức, chỉ còn lại nỗi đau đớn, xót xa. Tác giả đã sử dụng biện pháp đối lập để nhấn mạnh sự tương phản giữa quá khứ ngọt ngào, ân ái mặn nồng và hiện tại dở dang cùng tương lai vô cùng mịt mờ, đẩy nàng vào bi kịch không có điểm tựa. Vì thế, nàng thổn thức trong nghẹn ngào:

“Trăm nghìn gửi lạy tình quân
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi”

Tác giả đã sử dụng số từ “trăm nghìn” để ước lệ về sự lớn lao, vô hạn trong sự đối lập với “ngần ấy thôi” thể hiện sự nhỏ bé, khiêm nhường, bất lực. Tác giả đã lấy cái hữu hạn “ngần ấy thôi” để đối lại với cái vô hạn “trăm nghìn” để nói lên tiếng lòng của Thúy Kiều đối với Kim Trọng. Đó là sự day dứt, trăn trở, đau đáu đến khôn nguôi của nàng Kiều. Đặc biệt, hành động “lạy” một lần nữa xuất hiện trong trích đoạn “Trao duyên” đã thể hiện nhiều ý nghĩa sâu sắc. Nếu ở lần lạy thứ nhất với Thúy Vân, Thúy Kiều hiện lên với vị thế của người chịu ơn đối với ân nhân thì trong lần lạy với Kim Trọng, chúng ta thấy được nỗi đau của nàng. “Trăm nghìn gửi lạy tình quân” chính là cái lạy tạ lỗi, thể hiện niềm day dứt mặc cảm, mong nhận được sự cảm thông của Kim Trọng; đó còn là lời tạm biệt đầy tức tưởi của nàng Kiều. 

“Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!”

Trong dòng độc thoại nội tâm, nàng Kiều thu mình vào thế giới đầy khổ đau của chính mình, Kiều thốt lên tiếng kêu thương bi phẫn, oán hờn hiện thực bất công, phi lí, nhưng đó cũng là tiếng kêu xé lòng. Với nhịp thơ 3/3, câu thơ như bẻ gãy làm đôi trong sự nghẹn ngào, nức nở. Các thán từ “ôi”, “hỡi” kết hợp với việc nhắc lại tên gọi của Kim Trọng hai lần đã thể hiện tiếng lòng dồn dập, thống thiết. Điệp từ “Thôi thôi” nhấn mạnh nỗi đau tuyệt vọng, kết hợp từ “phụ” như một lời sám hối đau đớn, thể hiện nhân cách cao đẹp của Thúy Kiều. Trong khoảnh khắc, “Trao duyên” đã thể hiện lời trăng trối của người con gái chung tình mà hóa ra phụ tình ấy. Bằng trái tim nhân đạo, tác giả Nguyễn Du đã dùng nỗi đau để bi thiết nỗi đau, dùng nỗi đau để chạm tới trái tim của người đọc.

Như vậy, thông qua tám câu thơ cuối của trích đoạn “Trao duyên”, chúng ta có thể thấy được bi kịch về tình yêu tan vỡ, thân phận bất hạnh và nhân cách cao đẹp của Thúy Kiều. Đồng thời, những câu thơ trên còn là minh chứng tiêu biểu cho những đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm “Truyện Kiều” qua nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế, sắc sảo cùng từ ngữ trau chuốt, đặc sắc.
 

5. Cảm nhận về 8 câu thơ cuối trong bài Trao duyên, mẫu số 5 (Chuẩn)

Mối tình Kim – Kiều buổi ban đầu ngỡ sẽ nên duyên đẹp, nhưng số phận đưa đẩy, để cứu cha và em mình, Kiều buộc phải bán thân. Lời hẹn thề cùng vật đính ước, Kiều đánh ngậm ngùi gửi trao cho em gái Thúy Vân. Tình cảm và lý trí mâu thuẫn, Kiểu vừa đau, vừa xót, vừa thương. Đoạn trích Trao duyên đã thể hiện rất rõ tâm trạng ấy của nàng Kiều, đặc biệt, đọc 8 câu cuối đoạn trích ta khóc khỏi xót xa trước những lời thấu tâm can của Kiều:

“Bây giờ trâm gãy gương tan
Kế làm sao xiết muôn vàn ái ân.

Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây.”

Lời thề nguyền đêm xưa con đó, vậy mà bây giờ đây tình đôi ta vụn vỡ, chia lìa “trâm gãy, gương tan”. Tình yêu đẹp biết bao vậy mà phải chia đôi ai khiến lòng người đau đớn, xót xa. Hơn thế nữa, Kiều là phận gái, lại là người nặng tình nghĩa, thủy chung, nàng càng đau gấp bội. Buộc phải trao duyên cho em là lựa chọn cuối cùng của Kiều dù lòng chẳng đặng, thực tại phũ phàng quá, trái tim nàng, cõi lòng nàng tan nát. Mỗi lời thốt ra như một lời ai oán khóc thương cho phận mình, cho cuộc tình mình:

“Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi
Phận sao phận bạc như vôi
Đã đành nước chảy, hoa trôi lỡ làng”

Những thành ngữ “phận bạc như vôi” “nước chảy hoa trôi” được tác giả vận dụng vào thơ để đặc tả thân phận bạc bẽo, chìm nổi, lênh đênh của nàng Kiều. Xã hội bất công, lòng người gian dối đã đọa đày nàng vào chỗ tối tăm, đây tình yêu nàng vào cuộc tơ duyên “ngắn ngủi”. Trước sự phũ phàng của số phận, nàng dù rất muốn nhưng chẳng thể nào đấu tranh, đành ngậm ngùi chấp nhận “Đã đánh nước chảy hoa trôi lỡ làng”.

Thương biết bao số phận lênh đênh của người phụ nữ phong kiến, cuộc đời may rủi không do mình chọn lựa:

“Thân em như trái bần trôi
Gió dập, sóng dồi biết tấp vào đâu”.

Thúy Kiều ví mình như hoa giữa dòng, vô định, nhỏ bé, mong lung giữa mênh mông sóng nước. Hoa “lỡ làng” mối duyên đẹp rồi sẽ đi về đâu, có đến được bến bờ hay mãi lênh đênh giữa dòng nước lớn.

Càng nghĩ càng đau đớn, tâm can nàng Kiều nặng trĩu, nàng thương mình một mà thương Kim Trong mười. Nàng thấy bản thân đã phụ lòng kẻ tri âm, Kiều thốt lên lời xin lỗi đẫm nước mắt:

“Ơi !Kim Lang! Hỡi Kim Lang
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây”

Các thán từ ơi, hỡi, kết hợp với hai tiếng Kim Lang nặng lòng tha thiết, dường như bao nhiêu tình cảm dành cho Kim, Kiều đã dồn hết vào trong hai tiếng gọi ấy. Kiều tự nhận lỗi về mình, tự nhận mình là kẻ phụ bạc tấm lòng chàng Kim để rồi đau đớn, cay đắng trào dâng, cồn cào trong trái tim nàng:

“Thôi thôi thiệp đã phủ chàng từ đây”

Lời xin lỗi cuối cùng đau xót đến nghẹn ngào của Kiều khiến ai cũng phải xót thương. Trước chàng Kim, Kiều không đổ lỗi cho số phận hay hoàn cảnh mà nàng tự nhận lỗi về mình. Điều đó cho thấy được tâm tư và tấm lòng của nàng. Nàng không còn nghĩ đến nỗi đau của mình nữa mà mọi lắng lo đều hướng đến chàng Kim – người nàng vốn vẫn hết mực thương yêu.

8 câu thơ cuối bài là một nốt nhạc trầm sâu lắng của đoạn trích. Kiều thương Kim Trọng bao nhiêu thì người đọc càng thương Kiều bấy nhiêu. Và trên hết, con là sự cảm phục một người con gái có cốt cách cao cả, trọng nghĩa, trọng tình.

————–HẾT—————


Truyện Kiều là một trong những tác phẩm văn học trung đại xuất sắc nhất và có tầm ảnh hưởng sâu rộng trong văn hóa của người Việt, mang giá trị nhân đạo sâu sắc khi tập trung đề cao vẻ đẹp của người phụ nữ, cũng như tấm lòng thương cảm, thấu hiểu cho số phận của người họ trong xã hội phong kiến còn nhiều bất công. Để tìm hiểu thêm về tác phẩm đồ sộ này mời các em tham thêm các bài văn mẫu lớp 10 cùng chủ đề như:  Phân tích đoạn trích Trao duyên, Cảm nhận về đoạn Trao duyên, Vẻ đẹp tâm hồn và nhân cách của Thúy Kiều qua đoạn trích Trao duyên, Phân tích tâm trạng của Thúy Kiều trong đoạn thơ Trao duyên. Chúc các em học tốt.

Back to top button
You cannot copy content of this page