Bài soạn lớp 12: Việt Bắc – Phần tác phẩm


Chỉ dẫn soạn bài: Việt Bắc – Phần tác phẩm – Trang 109 sgk ngữ văn 12 tập 1. Tất cả các câu hỏi trong bài học đều được giải đáp phân minh và dễ hiểu. Với cách soạn sau, các em học trò sẽ nắm tốt nội dung bài học. Ngoài ra, nếu có câu hỏi nào, các em comment phía dưới để thầy cô trả lời.

Câu giải đáp:

Tiểu dẫn:

  • Hoàn cảnh sáng tác:
    • Sau thắng lợi Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơ-ne-vơ được kí kết. Hòa bình lập lại ở miền Bắc.
    • Tháng 10 – 1954, các cơ quan trung ương của Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về lại thủ đô Hà Nội để tiếp diễn chỉ đạo cách mệnh.
    • Nhân sự kiện thời sự trọng đại này, Tố Hữu viết bài thơ “Việt Bắc” để trình bày nghĩa tình sâu nặng của những người cán bộ, chiến sĩ về xuôi với quê hương cách mệnh.
  • Kết cấu chung của bài thơ: Toàn bộ bài thơ gồm 150 câu thơ lục bát và được chia làm 2 phần:
    • 90 câu đầu: Tình cảm chung thủy son sắt của những người cán bộ về xuôi với quê hương cách mệnh phê duyệt nỗi nhớ da diết.
    • 60 câu sau: Sự gắn bó giữa miền ngược với miền xuôi và ước mong về 1 Việt Bắc sẽ được xây dựng trong ngày mai.
  • Địa điểm đoạn trích: Thuộc 90 câu đầu của bài.

Câu 1: Nêu cảnh ngộ sáng tác của bài thơ và phân tách sắc thái tâm cảnh,…

Nêu cảnh ngộ sáng tác của bài thơ và phân tách sắc thái tâm cảnh, lối đối đáp của đối tượng trữ tình trong đoạn trích.

Trả lời:

Hoàn cảnh sáng tác: Tháng 10 – 1954 nhân sự kiện quân ta đánh tan chiến dịch Điện Biên phủ của Pháp. Các chiến sĩ mau chóng về xuôi để bảo vệ cơ quan đầu não của Đảng. Trước sự kiện quan trọng cộng với cuộc chia tay quần chúng Việt Bắc lưu luyến bịn rịn Tố Hữu đã viết bài thơ này

Sắc thái tâm cảnh và lối đối đáp của đối tượng trữ tình trong đoạn trích: Trạng thái bâng khuâng ngay ngáy, lưu luyến, bịn rịn lúc chia tay.

  • Người ở lại lên tiếng trước và gợi nhắc về những kỉ niệm gắn bó suốt 15 5. “Mình về mình có nhớ ta
  • Khi ra đi tâm cảnh của đối tượng trữ tình có chút bịn rịn, giữa người đi và kẻ ở, tình cảm ấy trình bày sự gắn bó lâu 5, gắn bó da diết, ko có cách nào có thể ngăn cản nguồn cảm hứng ấy của dân tộc.
  • Lối đối đáp gần gụi xưng hô mình- ta.

Câu 2: Qua hồi ức của Tố Hữu, vẻ đẹp của cảnh và người Việt Bắc hiện lên như thế nào?

Trả lời:

  • Cảnh vật của núi rừng Tây Bắc trong con mắt của tác giả:
    • Thiên nhiên mang vẻ hà khắc, hình ảnh “Mưa nguồn suối lũ những mây cùng mù” . Đây là tự nhiên trình bày nỗi nặng nhọc, gian truân, nặng nhọc, thảm khốc.
    • Ngoài tự nhiên ấy ra, con người con bị bịn rịn bởi những hình ảnh khó quên như hình ảnh khói bếp,  cảnh tự nhiên đẹp của 4 mùa Tây Bắc. Con người đang bị hòa quyện vào ko gian của cảnh núi rừng Tây Bắc bao la.
  • Cảnh Việt Bắc đẹp hơn trong sự hòa quyện với ko khí kháng chiến: Khó nhọc, gian nan, thiếu thốn, mà hào hùng sáng sủa:

   Nhớ sao lớp học i tờ

         …

Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo

  • Hình ảnh người dân Việt Bắc đã khắc tạc vào lòng người kháng chiến những nét khó quên. 
    • Ấy là hình ảnh người mẹ “địu con lên rẫy” trong cái nắng cháy lưng, công nhân tự tin chủ động với hình ảnh “dao gài dây lưng”; những người đan nón, siêng năng, khôn khéo “chuốt từng sợ giang”; gợi cảm nhất là hình ảnh “cô gái hái măng 1 mình” giữa rừng hoa vàng.
    • Hấp dẫn nhất và đáng nhớ nhất ở người Việt Bắc là cái nghĩa, cái tình. Kháng chiến thiếu thốn “miếng cơm chấm muối” mà “cay đắng ngọt bùi” cùng san sớt, phụ trách.

Câu 3: Khung cảnh hùng tráng của Việt Bắc trong đấu tranh…

Khung cảnh hùng tráng của Việt Bắc trong đấu tranh và vai trò của Việt Bắc trong cách mệnh và kháng chiến được khắc họa ra sao?

Trả lời:

Khung cảnh được mô tả thật hùng tráng, dữ dội trước quang cảnh tự nhiên mênh mang, bao la, con người keo sơn, gắn bó, sống trong quang cảnh bao la, dài mộng mơ. Những cảnh bao la, những họat động sôi động nhộn nhịp của kháng chiến được tái tạo với văn pháp đậm nét tráng ca: “Những đường Việt Bắc của ta … Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay”

Vai trò của Việt Bắc trong cách mệnh và kháng chiến: Việt Bắc là quê hương cách mệnh, đầu não của cuộc kháng chiến, nơi đặt niềm tin cậy và hi vọng của con người Việt Nam từ mọi miền quốc gia, đặc thù là những nơi còn “ảm đạm kẻ thù”.

Câu 4: Nhận xét bề ngoài nghệ thuật đặm đà tính dân tộc…

Nhận xét bề ngoài nghệ thuật đặm đà tính dân tộc của bài thơ trong đoạn trích đoạn này.

Trả lời:

  • Về thể loại:
    • Sử dụng thể thơ: lục bát, 1 thể thơ truyền thống mang vẻ đẹp cổ đại.
    • Cấu tứ bài thơ: là cấu tứ ca dao với lối đối đáp của 2 đối tượng trữ tình “: “mình” – “ta”.
    • Sử dụng bề ngoài tiểu đối của ca dao: vừa nhấn mạnh ý vừa tạo ra nhịp thơ tương thích, uyển chuyển, khiến cho lời thơ dễ nhớ, dễ thuộc, thấm sâu vào tâm tình:
      • “Nhìn cây nhớ núi/nhìn sông nhớ nguồn”
      • “Bâng khuâng trong dạ / ngay ngáy bước đi”
      • “Trám bùi để rụng,/ măng mai để già”
      • “Nông thôn phát động,/ giao thông mở đường.”
  • Về tiếng nói: Sử dụng lời ăn ngôn ngữ của quần chúng: rất giản dị, mộc mạc mà cũng rất sinh động 

=> để tái tạo 1 thời cách mệnh và kháng chiến đầy gian nan nhưng dạt dào tình nghĩa.

    • Ấy là thứ tiếng nói rất giàu hình ảnh chi tiết:

“Nghìn đêm thăm thẳm sương dày”

“Nắng trưa đặc sắc sao vàng”

    • Cũng là thứ tiếng nói giàu giai điệu:

“Chày đêm nện cối đều đều suối xa”

“Đêm đêm rầm rập như là đất rung”

  • Sử dụng thuần thục phép điệp trùng của tiếng nói dân gian:

“Mình về, mình có nhớ ta”

“Mình về, có nhớ chiến khu”

“Nhớ sao lớp học i tờ”

“Nhớ sao tháng ngày cơ quan”

“Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều”

=> Tạo giọng điệu trữ tình thiết tha, ngọt ngào, như đưa ta vào toàn cầu của kỷ niệm và nghĩa tình thuỷ chung. 

[Luyện tập] Câu 1: Nêu rõ nét tài giỏi của Tố Hữ trong việc sử dụng cặp đại từ…

Nêu rõ nét tài giỏi của Tố Hữ trong việc sử dụng cặp đại từ xưng hô mình – ta trong bài thơ.

Trả lời:

  • Cách sử dụng cặp đại từ xưng hô mình – ta:
    • Trong đoạn trích bài thơ “Việt Bắc”, từ mình được dùng để chỉ bản thân người nói – thứ bậc nhất, mà cũng còn dùng ở thứ bậc 2. Từ ta là thứ bậc nhất, chỉ người phát ngôn, mà có lúc ta chỉ chúng ta.
  • Cặp đại từ này được sử dụng rất thông minh, biến hóa linh động:
    • Có trường hợp: mình chỉ những người cán bộ, ta chỉ người Việt Bắc (Mình về mình có nhớ ta/ Mười lăm 5 đó tha thiết mặn nồng).
    • Có trường hợp: mình chỉ người Việt Bắc, ta chỉ người cán bộ (Ta về, mình có nhớ ta/ Ta về, ta nhớ những hoa cùng người).
    • Có trường hợp: mình chỉ cả người cán bộ và người Việt Bắc (như chữ mình thứ 3 trong câu: Mình đi mình lại nhớ mình).
  • Ý nghĩa của cách sử dụng cặp đại từ ­mình – ta:
    • Mang lại cho bài thơ phong vị ca dao, tính dân tộc đặm đà và 1 giọng điệu tâm tư ngọt ngào, sâu lắng. Lối xưng hô gần gụi ấy từng xuát hiện trong ca dao, dân ca
    • Góp phần khiến cho tình cảm giữa người ra đi và người hầu lại, giữa cán bộ với quần chúng Việt Bắc thêm thân tình, gần gụi, thiên nhiên, gắn bó mật thiết tuy 2 nhưng 1. Điều ấy cũng trình bày tình cảm của tác giả với quần chúng vùng Việt Bắc, coi ấy như mái nhà thân thiện trong những 5 kháng chiến gian nan.

[Luyện tập] Câu 2: Chọn trong đoạn trích 2 đoạn điển hình:

1 đoạn về vẻ đẹp của cảnh và người Việt Bắc

1 đoạn về quang cảnh hùng tráng của Việt Bắc trong kháng chiến

Phân tích 1 trong 2 đoạn ấy. 

Trả lời:

1 đoạn về vẻ đẹp của cảnh và người Việt Bắc:

Ta về mình có nhớ ta

Ta về ta nhớ những hoa cùng người

Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Đèo cao ánh nắng dao gài dây lưng

Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang…

1 đoạn về quang cảnh hùng tráng của Việt Bắc trong cuộc kháng chiến:

Những đường Việt Bắc của ta

Đêm đêm rầm rập như là đất rung

 Quân đi điệp chập chồng trùng

Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan.

Dân công đỏ đuốc từng đoàn

Dấu chân nát đá muôn tàn lửa bay.

Nghìn đêm thăm thẳm sương dày

Đèn pha bật sáng như mai sau lên.

Tin vui thắng lợi trăm miền

Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về

Phân tích đoạn thơ:

I. Mở bài

Việt Bắc , khúc ca trữ tình nồng thắm, si mê về những lẽ sống béo, ân huệ béo của con người cách mệnh.Nỗi nhớ hướng về cảnh và người hầu quê hương Việt Bắc là 1 nội dung nổi trội của bài thơ, được trình bày cực kỳ tuyệt vời trong đoạn thơ trên.

II. Thân bài

1. Nhận xét chung

Đây là bức tranh được dệt bằng ngôn từ nghệ thuật toàn bích, có sự hoà quyện giữa cảnh và người, giữa cuộc đời thực với tấm lòng của thi sĩ cách mệnh.Mười câu thơ trên nằm trong trường đoạn gồm 62 câu thơ diễn đạt tâm tư của người cán bộ sắp sửa rời Việt Bắc, nơi mình đã 15 5 gắn bó với bao tình cảm máu thịt.

1. Hai câu đầu

Đoạn thơ khởi đầu bằng 1 câu hỏi:

Ta về, mình có nhớ ta

Nhưng thực ra, hỏi chỉ để nhưng hỏi, hỏi để tạo thêm cái cớ để giải bày nỗi lòng của mình:

Ta về, ta nhớ những hoa cùng người.

Câu thơ có nhịp độ êm ái nhờ những điệp từ tạo và các thanh bằng (6/8) như 1 lời ru, 1 câu hát ko chỉ diễn đạt tâm cảnh thiết tha của đối tượng trữ tình. Đây còn là lời ca ngợi về tự nhiên và con người Việt Bắc. Trong tiếng nói Việt, hoa còn có ý nghĩa biểu tượng về tự nhiên, về những gì tươi đẹp. Đặt hoa kế bên người là sự suy tôn về tự nhiên và con người Việt Bắc. Hoa và người hoà quyện, gắn bó với nhau. Nói đến tự nhiên chẳng thể nhắc đến con người và trái lại, những con người đó đã ở trong 1 tự nhiên đẹp, gần gụi.

2. 8 câu thơ sau

Nhận xét: 4 câu thơ lục bát còn lại là 1 bức tranh liên hoàn về con người và tự nhiên Việt Bắc. Nhiều người gọi đây là bộ tứ bình (xuân, hạ, thu, đông). Nhà thơ kế thừa nghệ thuật hội hoạ cổ kính của dân tộc khi mà mô tả tự nhiên. Mỗi 1 câu thơ khắc hoạ 1 bức tranh chi tiết mà cũng có thể ghép lại thành 1 bộ liên hoàn:

Bức tranh thứ nhất:

Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Đèo cao nắng ánh dao gài dây lưng

Bức thứ nhất của bộ tranh tả cảnh mùa đông. Màu hoa chuối đỏ tươi đã làm trẻ lại màu xanh trầm tịch của rừng già. Sự đối nghịch 2 màu xanh – đỏ ở đây rất đắt.

 Bức tranh thứ 2:

Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang

Bức tranh thứ 2 tả cảnh mùa xuân bằng gam màu trắng. Xuân về,rừng hoa mơ bừng nở. Màu trắng thuần khiết của nó làm choáng ngợp lòng người. Âm điệu 2 chữ “trắng rừng” diễn đạt rất đạt sức xuân nơi núi rừng và cảm giác ngất ngây trong lòng người ngắm cảnh.

Người đan nón có dáng vẻ thong dong rất hòa hợp với bối cảnh. Từ “chuốt” vừa mang thuộc tính của động từ vừa mang thuộc tính của tình tứ.

Cách điệp âm (mơ/nở; trắng/rừng) cộng với hình ảnh của hoa mơ (màu trắng) tạo ra 1 ko gian vừa bao la, vừa có sự rộn rã, nô nức của tự nhiên. Nếu ở bức tranh thơ thứ nhất, nghệ thuật mô tả của tác giả ở điểm xuyết, tìm hình ảnh gợi, sắc màu sáng (hoa đỏ, nắng ánh) để diễn đạt sự chuyển di của cảnh vật thì ở đây, thi sĩ lại hướng cái nhìn vào sự bao quát chập chồng để tìm cái rộn rực (tiềm tàng) của tự nhiên.

Bức tranh thứ 3 nói về mùa hè. Gam màu vàng được sử dụng đắt địa. Ấy là “màu” của tiếng ve quyện hòa với màu vàng của rừng phách thay lá. Do cách diễn tả tài tình của rừng phách, ta có cảm nghĩ tiếng ve đã gọi dậy sắc vàng của rừng phách và trái lại sắc vàng này như đã thị giác hóa tiếng ve.

Ve kêu rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng 1 mình.

Câu thơ khởi đầu bằng âm thanh (ve kêu), mà cũng là cách định vị bằng thời kì (mùa hè). Dòng thơ vừa có âm thanh rộn rã, vừa có màu sắc đặc biệt của rừng Việt Bắc. Âm thanh và màu sắc đó hình thành cảnh tâng bừng của tự nhiên. Nếu nói tự nhiên cũng có đời sống riêng của nó thi đây quả thật là ngày hội của cảnh vật. Thành ra, trong “ngày hội” đó hình ảnh cô em gái hái măng 1 mình ko cô đơn nhưng góp phần hình thành bức tranh thơ hoàn chỉnh:

Như đã nói, hoa và người Việt Bắc trong thơ Tố Hữu hoà quỵên, cùng suy tôn lẫn nhau. Trong hoài niệm này, tác giả dùng bút lực của mình để ca tụng, suy tôn sự hài hoà ấy. Và chính sự hài hoà ấy đã hình thành chất thơ. Vì vậy, ko nên diễn dịch, giàu chất biểu tượng với những nét sinh hoạt, lao động của cuộc sống thực.

Bức tranh thứ tư vẽ cảnh mùa thu với ánh trăng dịu mát, êm ả. Trên nền bối cảnh đó, “tiếng hát ân huệ chung thủy” người nào ấy cất lên nghe thật ấm lòng. Đây là tiếng hát của ngày qua hay tiếng hát của thời khắc ngày nay đang ngân nga trong lòng người sắp phải từ biệt Việt Bắc

Rừng thu trăng rọi hoà bình

Nhớ người nào tiếng hát ân huệ thuỷ chung.

Câu thơ có kiểu khởi đầu bằng sự định vị cả ko gian lẫn thời kì (rừng thu). Tới đây, ta để mắt tới các kiểu định vị ở những câu thơ trên:

Rừng xanh => ko gian

Ngày xuân => thời kì

Ve kêu => âm thanh ( thời kì )

Ứng với mỗi câu thơ và cách định vị trên là 1 mùa của tự nhiên (mùa đông, mùa xuân, mùa hạ). Câu thơ này cũng là bức tranh về 1 mùa của tự nhiên (mùa thu). Nhưng có nhẽ vì ấy là bức tranh cuối của bộ tứ bình và là tiếng hát cuối của 1 trường đoạn hoài niệm nên hình ảnh tất thảy đều trở thành biểu tượng, âm hưởng cũng bao quát hơn:

Rừng thu trăng rọi hòa bình

Nhớ người nào tiếng hát ân huệ thuỷ chung.

=> Rừng thu Việt Bắc trong thơ Tố Hữu mênh mang mà ko lạnh lẽo. “Trăng rọi hoà bình” vừa mang ý nghĩa ánh trăng của cuộc đời ân huệ đó, lại vừa mang ý nghĩa cuộc sống có sự soi rọi ấm áp của niềm tin, tự do. Và, trong cuộc sống ấm áp đó, có biết bao lăm tình nghĩa sâu nặng.

3. Bình chọn 

Bộ tứ bình bằng thơ về cảnh và người Việt Bắc được dệt dưới ánh sáng của hoài niệm da diết. Thông thường, nguời ta chỉ nhớ những gì mang ấn tượng nhất của dĩ vãng và thời kì càng lùi xa thì ấn tượng đó càng trở thành tươi đẹp, ảo huyền hơn. Hàng loạt điệp từ nhớ ( 5 từ ) trong 1 khổ thơ như là sự nối dài của lòng hoài niệm ko dứt.

III. Kết bài

Đoạn thơ có vẻ đẹp lộng lẫy đã được viết bằng 1 ngòi bút điêu luyện. Đọc nó, ấn tượng thâm thúy còn lại là tình nghĩa đối với “quê hương cách mệnh dựng nên cộng hòa”. Ở ấy, thi sĩ trình bày sự tài giỏi của mình trên nhiều bình diện của nghệ thuật thông minh thi ca. Sự tài giỏi đó được dẫn dắt của 1 điệu tâm hồn đầy nghĩa tình của thi sĩ.Đoạn thơ trên là 1 trong những đoạn thơ hay nhất của bài thơ Việt Bắc bởi kết tinh 1 nghệ thuật thơ ca vừa giàu tính dân tộc, vừa mang tính đương đại trong 1 điệu tâm hồn đắm say.

.


Thông tin thêm về Bài soạn lớp 12: Việt Bắc – Phần tác phẩm

Chỉ dẫn soạn bài: Việt Bắc – Phần tác phẩm – Trang 109 sgk ngữ văn 12 tập 1. Tất cả các câu hỏi trong bài học đều được giải đáp phân minh và dễ hiểu. Với cách soạn sau, các em học trò sẽ nắm tốt nội dung bài học. Ngoài ra, nếu có câu hỏi nào, các em comment phía dưới để thầy cô trả lời.

Câu giải đáp:

Tiểu dẫn:

  • Hoàn cảnh sáng tác:
    • Sau thắng lợi Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơ-ne-vơ được kí kết. Hòa bình lập lại ở miền Bắc.
    • Tháng 10 – 1954, các cơ quan trung ương của Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về lại thủ đô Hà Nội để tiếp diễn chỉ đạo cách mệnh.
    • Nhân sự kiện thời sự trọng đại này, Tố Hữu viết bài thơ “Việt Bắc” để trình bày nghĩa tình sâu nặng của những người cán bộ, chiến sĩ về xuôi với quê hương cách mệnh.
  • Kết cấu chung của bài thơ: Toàn bộ bài thơ gồm 150 câu thơ lục bát và được chia làm 2 phần:
    • 90 câu đầu: Tình cảm chung thủy son sắt của những người cán bộ về xuôi với quê hương cách mệnh phê duyệt nỗi nhớ da diết.
    • 60 câu sau: Sự gắn bó giữa miền ngược với miền xuôi và ước mong về 1 Việt Bắc sẽ được xây dựng trong ngày mai.
  • Địa điểm đoạn trích: Thuộc 90 câu đầu của bài.

Câu 1: Nêu cảnh ngộ sáng tác của bài thơ và phân tách sắc thái tâm cảnh,…

Nêu cảnh ngộ sáng tác của bài thơ và phân tách sắc thái tâm cảnh, lối đối đáp của đối tượng trữ tình trong đoạn trích.

Trả lời:

Hoàn cảnh sáng tác: Tháng 10 – 1954 nhân sự kiện quân ta đánh tan chiến dịch Điện Biên phủ của Pháp. Các chiến sĩ mau chóng về xuôi để bảo vệ cơ quan đầu não của Đảng. Trước sự kiện quan trọng cộng với cuộc chia tay quần chúng Việt Bắc lưu luyến bịn rịn Tố Hữu đã viết bài thơ này

Sắc thái tâm cảnh và lối đối đáp của đối tượng trữ tình trong đoạn trích: Trạng thái bâng khuâng ngay ngáy, lưu luyến, bịn rịn lúc chia tay.

  • Người ở lại lên tiếng trước và gợi nhắc về những kỉ niệm gắn bó suốt 15 5. “Mình về mình có nhớ ta
  • Khi ra đi tâm cảnh của đối tượng trữ tình có chút bịn rịn, giữa người đi và kẻ ở, tình cảm ấy trình bày sự gắn bó lâu 5, gắn bó da diết, ko có cách nào có thể ngăn cản nguồn cảm hứng ấy của dân tộc.
  • Lối đối đáp gần gụi xưng hô mình- ta.

Câu 2: Qua hồi ức của Tố Hữu, vẻ đẹp của cảnh và người Việt Bắc hiện lên như thế nào?

Trả lời:

  • Cảnh vật của núi rừng Tây Bắc trong con mắt của tác giả:
    • Thiên nhiên mang vẻ hà khắc, hình ảnh “Mưa nguồn suối lũ những mây cùng mù” . Đây là tự nhiên trình bày nỗi nặng nhọc, gian truân, nặng nhọc, thảm khốc.
    • Ngoài tự nhiên ấy ra, con người con bị bịn rịn bởi những hình ảnh khó quên như hình ảnh khói bếp,  cảnh tự nhiên đẹp của 4 mùa Tây Bắc. Con người đang bị hòa quyện vào ko gian của cảnh núi rừng Tây Bắc bao la.
  • Cảnh Việt Bắc đẹp hơn trong sự hòa quyện với ko khí kháng chiến: Khó nhọc, gian nan, thiếu thốn, mà hào hùng sáng sủa:

   Nhớ sao lớp học i tờ

         …

Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo

  • Hình ảnh người dân Việt Bắc đã khắc tạc vào lòng người kháng chiến những nét khó quên. 
    • Ấy là hình ảnh người mẹ “địu con lên rẫy” trong cái nắng cháy lưng, công nhân tự tin chủ động với hình ảnh “dao gài dây lưng”; những người đan nón, siêng năng, khôn khéo “chuốt từng sợ giang”; gợi cảm nhất là hình ảnh “cô gái hái măng 1 mình” giữa rừng hoa vàng.
    • Hấp dẫn nhất và đáng nhớ nhất ở người Việt Bắc là cái nghĩa, cái tình. Kháng chiến thiếu thốn “miếng cơm chấm muối” mà “cay đắng ngọt bùi” cùng san sớt, phụ trách.

Câu 3: Khung cảnh hùng tráng của Việt Bắc trong đấu tranh…

Khung cảnh hùng tráng của Việt Bắc trong đấu tranh và vai trò của Việt Bắc trong cách mệnh và kháng chiến được khắc họa ra sao?

Trả lời:

Khung cảnh được mô tả thật hùng tráng, dữ dội trước quang cảnh tự nhiên mênh mang, bao la, con người keo sơn, gắn bó, sống trong quang cảnh bao la, dài mộng mơ. Những cảnh bao la, những họat động sôi động nhộn nhịp của kháng chiến được tái tạo với văn pháp đậm nét tráng ca: “Những đường Việt Bắc của ta … Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay”

Vai trò của Việt Bắc trong cách mệnh và kháng chiến: Việt Bắc là quê hương cách mệnh, đầu não của cuộc kháng chiến, nơi đặt niềm tin cậy và hi vọng của con người Việt Nam từ mọi miền quốc gia, đặc thù là những nơi còn “ảm đạm kẻ thù”.

Câu 4: Nhận xét bề ngoài nghệ thuật đặm đà tính dân tộc…

Nhận xét bề ngoài nghệ thuật đặm đà tính dân tộc của bài thơ trong đoạn trích đoạn này.

Trả lời:

  • Về thể loại:
    • Sử dụng thể thơ: lục bát, 1 thể thơ truyền thống mang vẻ đẹp cổ đại.
    • Cấu tứ bài thơ: là cấu tứ ca dao với lối đối đáp của 2 đối tượng trữ tình “: “mình” – “ta”.
    • Sử dụng bề ngoài tiểu đối của ca dao: vừa nhấn mạnh ý vừa tạo ra nhịp thơ tương thích, uyển chuyển, khiến cho lời thơ dễ nhớ, dễ thuộc, thấm sâu vào tâm tình:
      • “Nhìn cây nhớ núi/nhìn sông nhớ nguồn”
      • “Bâng khuâng trong dạ / ngay ngáy bước đi”
      • “Trám bùi để rụng,/ măng mai để già”
      • “Nông thôn phát động,/ giao thông mở đường.”
  • Về tiếng nói: Sử dụng lời ăn ngôn ngữ của quần chúng: rất giản dị, mộc mạc mà cũng rất sinh động 

=> để tái tạo 1 thời cách mệnh và kháng chiến đầy gian nan nhưng dạt dào tình nghĩa.

    • Ấy là thứ tiếng nói rất giàu hình ảnh chi tiết:

“Nghìn đêm thăm thẳm sương dày”

“Nắng trưa đặc sắc sao vàng”

    • Cũng là thứ tiếng nói giàu giai điệu:

“Chày đêm nện cối đều đều suối xa”

“Đêm đêm rầm rập như là đất rung”

  • Sử dụng thuần thục phép điệp trùng của tiếng nói dân gian:

“Mình về, mình có nhớ ta”

“Mình về, có nhớ chiến khu”

“Nhớ sao lớp học i tờ”

“Nhớ sao tháng ngày cơ quan”

“Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều”

=> Tạo giọng điệu trữ tình thiết tha, ngọt ngào, như đưa ta vào toàn cầu của kỷ niệm và nghĩa tình thuỷ chung. 

[Luyện tập] Câu 1: Nêu rõ nét tài giỏi của Tố Hữ trong việc sử dụng cặp đại từ…

Nêu rõ nét tài giỏi của Tố Hữ trong việc sử dụng cặp đại từ xưng hô mình – ta trong bài thơ.

Trả lời:

  • Cách sử dụng cặp đại từ xưng hô mình – ta:
    • Trong đoạn trích bài thơ “Việt Bắc”, từ mình được dùng để chỉ bản thân người nói – thứ bậc nhất, mà cũng còn dùng ở thứ bậc 2. Từ ta là thứ bậc nhất, chỉ người phát ngôn, mà có lúc ta chỉ chúng ta.
  • Cặp đại từ này được sử dụng rất thông minh, biến hóa linh động:
    • Có trường hợp: mình chỉ những người cán bộ, ta chỉ người Việt Bắc (Mình về mình có nhớ ta/ Mười lăm 5 đó tha thiết mặn nồng).
    • Có trường hợp: mình chỉ người Việt Bắc, ta chỉ người cán bộ (Ta về, mình có nhớ ta/ Ta về, ta nhớ những hoa cùng người).
    • Có trường hợp: mình chỉ cả người cán bộ và người Việt Bắc (như chữ mình thứ 3 trong câu: Mình đi mình lại nhớ mình).
  • Ý nghĩa của cách sử dụng cặp đại từ ­mình – ta:
    • Mang lại cho bài thơ phong vị ca dao, tính dân tộc đặm đà và 1 giọng điệu tâm tư ngọt ngào, sâu lắng. Lối xưng hô gần gụi ấy từng xuát hiện trong ca dao, dân ca
    • Góp phần khiến cho tình cảm giữa người ra đi và người hầu lại, giữa cán bộ với quần chúng Việt Bắc thêm thân tình, gần gụi, thiên nhiên, gắn bó mật thiết tuy 2 nhưng 1. Điều ấy cũng trình bày tình cảm của tác giả với quần chúng vùng Việt Bắc, coi ấy như mái nhà thân thiện trong những 5 kháng chiến gian nan.

[Luyện tập] Câu 2: Chọn trong đoạn trích 2 đoạn điển hình:

1 đoạn về vẻ đẹp của cảnh và người Việt Bắc

1 đoạn về quang cảnh hùng tráng của Việt Bắc trong kháng chiến

Phân tích 1 trong 2 đoạn ấy. 

Trả lời:

1 đoạn về vẻ đẹp của cảnh và người Việt Bắc:

Ta về mình có nhớ ta

Ta về ta nhớ những hoa cùng người

Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Đèo cao ánh nắng dao gài dây lưng

Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang…

1 đoạn về quang cảnh hùng tráng của Việt Bắc trong cuộc kháng chiến:

Những đường Việt Bắc của ta

Đêm đêm rầm rập như là đất rung

 Quân đi điệp chập chồng trùng

Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan.

Dân công đỏ đuốc từng đoàn

Dấu chân nát đá muôn tàn lửa bay.

Nghìn đêm thăm thẳm sương dày

Đèn pha bật sáng như mai sau lên.

Tin vui thắng lợi trăm miền

Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về

Phân tích đoạn thơ:

I. Mở bài

Việt Bắc , khúc ca trữ tình nồng thắm, si mê về những lẽ sống béo, ân huệ béo của con người cách mệnh.Nỗi nhớ hướng về cảnh và người hầu quê hương Việt Bắc là 1 nội dung nổi trội của bài thơ, được trình bày cực kỳ tuyệt vời trong đoạn thơ trên.

II. Thân bài

1. Nhận xét chung

Đây là bức tranh được dệt bằng ngôn từ nghệ thuật toàn bích, có sự hoà quyện giữa cảnh và người, giữa cuộc đời thực với tấm lòng của thi sĩ cách mệnh.Mười câu thơ trên nằm trong trường đoạn gồm 62 câu thơ diễn đạt tâm tư của người cán bộ sắp sửa rời Việt Bắc, nơi mình đã 15 5 gắn bó với bao tình cảm máu thịt.

1. Hai câu đầu

Đoạn thơ khởi đầu bằng 1 câu hỏi:

Ta về, mình có nhớ ta

Nhưng thực ra, hỏi chỉ để nhưng hỏi, hỏi để tạo thêm cái cớ để giải bày nỗi lòng của mình:

Ta về, ta nhớ những hoa cùng người.

Câu thơ có nhịp độ êm ái nhờ những điệp từ tạo và các thanh bằng (6/8) như 1 lời ru, 1 câu hát ko chỉ diễn đạt tâm cảnh thiết tha của đối tượng trữ tình. Đây còn là lời ca ngợi về tự nhiên và con người Việt Bắc. Trong tiếng nói Việt, hoa còn có ý nghĩa biểu tượng về tự nhiên, về những gì tươi đẹp. Đặt hoa kế bên người là sự suy tôn về tự nhiên và con người Việt Bắc. Hoa và người hoà quyện, gắn bó với nhau. Nói đến tự nhiên chẳng thể nhắc đến con người và trái lại, những con người đó đã ở trong 1 tự nhiên đẹp, gần gụi.

2. 8 câu thơ sau

Nhận xét: 4 câu thơ lục bát còn lại là 1 bức tranh liên hoàn về con người và tự nhiên Việt Bắc. Nhiều người gọi đây là bộ tứ bình (xuân, hạ, thu, đông). Nhà thơ kế thừa nghệ thuật hội hoạ cổ kính của dân tộc khi mà mô tả tự nhiên. Mỗi 1 câu thơ khắc hoạ 1 bức tranh chi tiết mà cũng có thể ghép lại thành 1 bộ liên hoàn:

Bức tranh thứ nhất:

Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Đèo cao nắng ánh dao gài dây lưng

Bức thứ nhất của bộ tranh tả cảnh mùa đông. Màu hoa chuối đỏ tươi đã làm trẻ lại màu xanh trầm tịch của rừng già. Sự đối nghịch 2 màu xanh – đỏ ở đây rất đắt.

 Bức tranh thứ 2:

Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang

Bức tranh thứ 2 tả cảnh mùa xuân bằng gam màu trắng. Xuân về,rừng hoa mơ bừng nở. Màu trắng thuần khiết của nó làm choáng ngợp lòng người. Âm điệu 2 chữ “trắng rừng” diễn đạt rất đạt sức xuân nơi núi rừng và cảm giác ngất ngây trong lòng người ngắm cảnh.

Người đan nón có dáng vẻ thong dong rất hòa hợp với bối cảnh. Từ “chuốt” vừa mang thuộc tính của động từ vừa mang thuộc tính của tình tứ.

Cách điệp âm (mơ/nở; trắng/rừng) cộng với hình ảnh của hoa mơ (màu trắng) tạo ra 1 ko gian vừa bao la, vừa có sự rộn rã, nô nức của tự nhiên. Nếu ở bức tranh thơ thứ nhất, nghệ thuật mô tả của tác giả ở điểm xuyết, tìm hình ảnh gợi, sắc màu sáng (hoa đỏ, nắng ánh) để diễn đạt sự chuyển di của cảnh vật thì ở đây, thi sĩ lại hướng cái nhìn vào sự bao quát chập chồng để tìm cái rộn rực (tiềm tàng) của tự nhiên.

Bức tranh thứ 3 nói về mùa hè. Gam màu vàng được sử dụng đắt địa. Ấy là “màu” của tiếng ve quyện hòa với màu vàng của rừng phách thay lá. Do cách diễn tả tài tình của rừng phách, ta có cảm nghĩ tiếng ve đã gọi dậy sắc vàng của rừng phách và trái lại sắc vàng này như đã thị giác hóa tiếng ve.

Ve kêu rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng 1 mình.

Câu thơ khởi đầu bằng âm thanh (ve kêu), mà cũng là cách định vị bằng thời kì (mùa hè). Dòng thơ vừa có âm thanh rộn rã, vừa có màu sắc đặc biệt của rừng Việt Bắc. Âm thanh và màu sắc đó hình thành cảnh tâng bừng của tự nhiên. Nếu nói tự nhiên cũng có đời sống riêng của nó thi đây quả thật là ngày hội của cảnh vật. Thành ra, trong “ngày hội” đó hình ảnh cô em gái hái măng 1 mình ko cô đơn nhưng góp phần hình thành bức tranh thơ hoàn chỉnh:

Như đã nói, hoa và người Việt Bắc trong thơ Tố Hữu hoà quỵên, cùng suy tôn lẫn nhau. Trong hoài niệm này, tác giả dùng bút lực của mình để ca tụng, suy tôn sự hài hoà ấy. Và chính sự hài hoà ấy đã hình thành chất thơ. Vì vậy, ko nên diễn dịch, giàu chất biểu tượng với những nét sinh hoạt, lao động của cuộc sống thực.

Bức tranh thứ tư vẽ cảnh mùa thu với ánh trăng dịu mát, êm ả. Trên nền bối cảnh đó, “tiếng hát ân huệ chung thủy” người nào ấy cất lên nghe thật ấm lòng. Đây là tiếng hát của ngày qua hay tiếng hát của thời khắc ngày nay đang ngân nga trong lòng người sắp phải từ biệt Việt Bắc

Rừng thu trăng rọi hoà bình

Nhớ người nào tiếng hát ân huệ thuỷ chung.

Câu thơ có kiểu khởi đầu bằng sự định vị cả ko gian lẫn thời kì (rừng thu). Tới đây, ta để mắt tới các kiểu định vị ở những câu thơ trên:

Rừng xanh => ko gian

Ngày xuân => thời kì

Ve kêu => âm thanh ( thời kì )

Ứng với mỗi câu thơ và cách định vị trên là 1 mùa của tự nhiên (mùa đông, mùa xuân, mùa hạ). Câu thơ này cũng là bức tranh về 1 mùa của tự nhiên (mùa thu). Nhưng có nhẽ vì ấy là bức tranh cuối của bộ tứ bình và là tiếng hát cuối của 1 trường đoạn hoài niệm nên hình ảnh tất thảy đều trở thành biểu tượng, âm hưởng cũng bao quát hơn:

Rừng thu trăng rọi hòa bình

Nhớ người nào tiếng hát ân huệ thuỷ chung.

=> Rừng thu Việt Bắc trong thơ Tố Hữu mênh mang mà ko lạnh lẽo. “Trăng rọi hoà bình” vừa mang ý nghĩa ánh trăng của cuộc đời ân huệ đó, lại vừa mang ý nghĩa cuộc sống có sự soi rọi ấm áp của niềm tin, tự do. Và, trong cuộc sống ấm áp đó, có biết bao lăm tình nghĩa sâu nặng.

3. Bình chọn 

Bộ tứ bình bằng thơ về cảnh và người Việt Bắc được dệt dưới ánh sáng của hoài niệm da diết. Thông thường, nguời ta chỉ nhớ những gì mang ấn tượng nhất của dĩ vãng và thời kì càng lùi xa thì ấn tượng đó càng trở thành tươi đẹp, ảo huyền hơn. Hàng loạt điệp từ nhớ ( 5 từ ) trong 1 khổ thơ như là sự nối dài của lòng hoài niệm ko dứt.

III. Kết bài

Đoạn thơ có vẻ đẹp lộng lẫy đã được viết bằng 1 ngòi bút điêu luyện. Đọc nó, ấn tượng thâm thúy còn lại là tình nghĩa đối với “quê hương cách mệnh dựng nên cộng hòa”. Ở ấy, thi sĩ trình bày sự tài giỏi của mình trên nhiều bình diện của nghệ thuật thông minh thi ca. Sự tài giỏi đó được dẫn dắt của 1 điệu tâm hồn đầy nghĩa tình của thi sĩ.Đoạn thơ trên là 1 trong những đoạn thơ hay nhất của bài thơ Việt Bắc bởi kết tinh 1 nghệ thuật thơ ca vừa giàu tính dân tộc, vừa mang tính đương đại trong 1 điệu tâm hồn đắm say.

.

#Bài #soạn #lớp #Việt #Bắc #Phần #tác #phẩm


  • Tổng hợp: Blog Tiền Điện Tử
  • #Bài #soạn #lớp #Việt #Bắc #Phần #tác #phẩm
Back to top button