Bài soạn lớp 12: Tây Tiến


Chỉ dẫn soạn bài: Tây Tiến – Trang 87 sgk ngữ văn 12 tập 1. Tất cả các câu hỏi trong bài học đều được giải đáp phân minh và dễ hiểu. Với cách soạn sau, các em học trò sẽ nắm tốt nội dung bài học. Ngoài ra, nếu có câu hỏi nào, các em comment phía dưới để thầy cô trả lời

Câu giải đáp:

Mày mò chung tác phẩm

  • Tác giả: (1921-1988)
    • Tên thật là Bùi Đình Diệm.
    • Quê ở Hà Tây.
    • Có nhiều tài năng: vẽ tranh, viết văn, làm thơ, sáng tác nhạc,…
    • Phong cách thơ: khoáng đạt, lãng mạn, tài ba.
    • Tác phẩm điển hình: 
      • Truyện, ký: Mùa hoa gạo, Rừng về xuôi, Nhà đồi…
      • Thơ: Bài thơ sông Hồng, Mây đầu ô …
  • Tác phẩm:
    • Hoàn cảnh sáng tác
      • Quang Dũng là đại đội trưởng đơn vị Tây tiến thành lập 5 1947.
      • 1 5 sau Quang Dũng chuyển sang đơn vị khác. Khi ngồi ở Phù Lưu Chanh nhớ đơn vị cũ anh sáng tác bài thơ “Tây Tiến”.
    • Bố cục: 4 phần
      • Phần 1: Đoạn 1 – những cuộc tiến quân gian nan, kiêu hãnh nơi miền Tây hiểm trở, thơ mộng.
      • Phần 2: Đoạn 2 – Những kỉ niệm đẹp của đời lính gắn với cảnh sắc và con người miền Tây
      • Phần 3: Đoạn 3 – Chân dung người lính Tây Tiến 
      • Phần 4: Đoạn 4 – Tây Tiến, những 5 tháng chẳng thể quên.

Câu 1: Theo văn bản, bài thơ có 4 đoạn. Nêu ý chính của mỗi đoạn…

Theo văn bản, bài thơ có 4 đoạn. Nêu ý chính của mỗi đoạn và chỉ ra mạch kết hợp giữa các đoạn.

Trả lời:

Bài thơ chia làm 4 đoạn sau:

  • Phần 1: Đoạn 1 – cảm hứng từ cuộc hành trình đầy gian nan của đoàn quân Tây Tiến.
  • Phần 2: Đoạn 2 – kỉ niệm về tình lang dân và quang cảnh sông nước miền tây.
  • Phần 3: Đoạn 3 – hình tượng người lính Tây Tiến,  đây là đoạn nói về nỗi nhớ đồng chí da diết của tác giả đối với những người chiến sĩ đồng chí của mình.
  •  Phần 4: Đoạn 4 – Tây Tiến những 5 tháng chẳng thể quên

= > Bài thơ được sáng tác trong nỗi nhớ da diết của thi sĩ Quang Dũng với đồng chí và đơn vị cũ. Nỗi nhớ đấy gắn liền với tự nhiên Tây Bắc hùng vĩ thơ mộng.

Câu 2: Nét rực rỡ của bức tranh tự nhiên được vẽ tra ở đoạn thơ thứ nhất?…

Nét rực rỡ của bức tranh tự nhiên được vẽ tra ở đoạn thơ thứ nhất? Hình ảnh đoàn quânTây Tiến xuất hiện trên nền cảnh tự nhiên đấy như thế nào?

Trả lời:

4 câu thơ đầu: thi sĩ nhắc đến ngay tới nỗi nhớ Tây Tiến gắn liền với sông Mã, với núi rừng Tây Bắc. Ấy là 1 nỗi nhớ chơi vơi => điệp vần “ơi” làm cho ta thấy được nỗi nhớ đấy mênh mang da diết tới mức nào.

Các địa danh tiến quân được nói đến như Sài Khao Mường Lát. Đoàn quân Tây Tiến phải đi từ rất sớm lúc trời vẫn còn sương và về lúc đêm đã buông kín lối.

4 câu thơ trình bày nỗi nhớ trước tiên của thi sĩ về đơn vị cũ. Nó gắn liền với con sông Mã với những cuộc tiến quân từ sáng sớm tinh sương cho tới tối đen như mực

4 câu thơ tiếp: Bức tranh tự nhiên Tây bắc hiện lên hùng vĩ và thơ mộng. 4 câu thơ nhưng trong ấy phần lớn là vần Trắc liên kết với các từ láy như ‘khuất khúc”, “thăm thẳm”, hình thành sự trắc trở gian lao của tự nhiên nhưng hàng ngày người lính phải đi qua

Câu cuối toàn vần bằng, gợi lên sau những giây phút tiến quân gian nan thì đoàn quân Tây Tiến trở về với cảm giác an toàn nhẹ nhõm hoàn thành 1 hành trình

 Những câu thơ tiếp theo: Giữa những hiểm trở đấy, hình tượng tiến quân của đoàn quân Tây Tiến càng phát triển thành hào hùng. Hình ảnh bi hùng của người lính Tây Tiến trên trận mạc, thi sĩ sử dụng giải pháp nói giảm nói tránh để giảm đi sự mất mát của đồng chí. Không những thế nó còn trình bày ý chí của người lính Tây Tiến coi cái chết nhẹ tựa 1 giấc ngủ, mỏi rồi ko muốn đi nữa nhưng “gục lên mũ súng”. Dù rằng bom đạn nổ lửa mà ý thức tranh đấu của các chiến sĩ chẳng phải sút giảm 

=>  Tác giả đã trình bày nó mang 1 nỗi mất mát phệ lao, số lượng những người chiến sĩ nằm lại nơi trận mạc rất nhiều. Nó cướp đi tuổi thanh xuân cũng như gia đình của những người chiến sĩ 1 lòng chuyên dụng cho cho tổ quốc.

Câu 3: Đoạn thơ thứ 2 lại mở ra 1 toàn cầu khác với những vẻ đẹp…

Đoạn thơ thứ 2 lại mở ra 1 toàn cầu khác với những vẻ đẹp mới của con người và tự nhiên miền Tây, khác với cảnh vật ở đoạn thơ thứ nhất. Hãy phân tách để làm rõ vẻ đẹp đấy.

Trả lời:

Ví như ở khổ thơ 1 bài thơ ‘Tây Tiến”, thi sĩ đã khắc họa những hình ảnh dữ dội của núi rừng Tây Bắc thì ở đoạn thơ thứ 2 này thì Quang Dũng đã đưa ta vào 1 quang cảnh khác: 1 quang cảnh rất mỹ lệ, duyên dáng, tươi mát của núi rừng Tây Bắc. Cảm hứng lãng mạn được phân thành 2 phần rõ rệt tách biệt nhau và hướng tới hình ảnh người lính trong đêm liên hoan doanh trại và vẻ đẹp Tây Bắc 1 chiều sương. Những nét vẽ bạo khỏe, gân guốc đã được thay bằng những nét mềm mại, tinh tế, tài ba.

Trcửa ải qua những phút chốc tiến quân gian nan, những người lính còn có những giờ phút giao lưu văn nghệ với đồng bào Tây Bắc. gọi là “doanh trại” bởi Quang Dũng theo cảm hứng lãng mạn, có nhẽ hiện thực là 1 đêm văn nghệ giản dị nhưng ấp áp trên chặng tiến quân dặm dài gian nan. Không khí liên hoan tràn trề cả âm thanh, ánh sáng, dáng bộ con người:

“Doanh trại bừng lên hội hoa chúc

Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Khèn lên man điệu nàng e ấp

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”

Đảo ngữ “bừng lên hội hoa chúc” liên kết với động từ “bừng” tạo ấn tượng về 1 thứ ánh sáng bất thần, tựa như có hàng nghìn có đuốc đột ngột thắp lên cháy sáng cả núi rừng trong đêm. Đôi mắt lãng mạn, tính từ của Quang Dũng đã ví những ngọn đuốc ấy như “hoa chúc” – ngọn đuốc cháy trong đêm tân hôn – ngầm chỉ 1 sự kết duyên gặp mặt giữa những người lính Tây Tiến trẻ trung hào hoa với dân chúng Tây Bắc. Trên cán nền ánh sáng lửa lung linh đấy, nổi trội là dáng hình uyển chuyển, dịu dàng theo điệu khèn của những thanh nữ Tây Bắc, và cũng ko giấu nổi sự kinh ngạc, ánh nhìn tình tứ của những người lính trẻ trước vẻ đẹp xứ người. Cái dáng bộ “e ấp” được soi chiếu qua đôi mắt hào hoa của những con người lần đầu đặt chân tới Tây Bắc gợi 1 vẻ đẹp bí mật, 1 sự phát hiện trước những nét đẹp văn hóa Tây Bắc. Thêm vào ấy là những “man điệu” – những điệu múa, điệu nhạc lạ như chất xúc tác gợi cái tình tứ, ham mê thưởng thức. Cái chất hào hoa, lãng mạn, đa tình này chừng như là “đặc sản” của những người lính trong thời gian kháng chiến chống Pháp, lúc họ đông đảo là thanh niên học trò kiến thức, xếp bút nghiên cầm súng lên đường theo tiếng gọi của quê hương. Câu thơ thứ tư của bài thơ Tây Tiến cốt yếu là thanh bằng, tạo cảm giác nhẹ nhõm, bay bổng trong tâm hồn của người lính” “Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”. Âm nhạc cất lên hòa điệu với tâm hồn thơ mộng, gọi về cái mơ mộng, đưa tâm hồn phiêu du vượt qua giới hạn của ko gian, của biên cương, để xây cất hồn thơ – mơ tới Viên Chăn – mơ tới ngày thắng lợi. Hình ảnh thơ mỹ lệ mà chẳng phải thoát ly cuộc sống, ngược lại có công dụng nâng đỡ tâm hồn con người, động viên những người lính và mở ra khát vọng hòa bình cho tổ quốc.

4 câu thơ đầu bài thơ Tây Tiến giúp ta cảm thu được cái tâng bừng, tấp nập trong đêm liên hoan ấm tình lang dân. 4 câu thơ sau lại tiếp diễn mạch xúc cảm của toàn bài thơ Tây Tiến, đấy là nỗi nhớ về những khoảng ko gian sông nước đầy chất thơ của tây bắc:

“Người đi Châu Mộc chiều sương đấy

Có thấy hồn lau nẻo bờ bến

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đu đưa”

Tây Bắc đẹp – thơ một- trữ tĩnh với bát ngát sông nước, lãng đãng sương giăng, với 2 bên bờ là ngút ngàn lau, và đâu ấy nhấp nhoáng bóng người, bóng hoa. Không gian và thời kì được mở ra qua cụm từ “chiều sương”: trong phút giây cuối ngày, khắp đất trời chìm trong màn sương bập bềnh, lãng đãng rất đặt trưng cho núi rừng Tây Bắc. Nhớ Tây Bắc là những người ta hay nhớ về những cánh đồng lau ngút ngàn trắng như thế, cái hồn của lau kéo theo cái hồn người là tương tự!

Nhớ về Tây Bắc còn là nhớ cái “dáng người trên độc mộc” – gợi vẻ đẹp khỏe khoắn của những chàng trai, những cô gái, những người dân Tây Bắc trên con thuyền độc mộc lao trên sóng nước. Cảm hứng truyền tụng những con người đấy ta cũng gặp trong hình ảnh người lá đò Mai Châu trong tác phẩm “Người lá đò sông Đà” của Nguyễn Tuân. Đặc trưng là hình ảnh những bông hoa rừng “đu đưa” trôi theo dòng nước lũ. Trong cái hà khắc dữ dội vẫn luôn có vẻ đẹp của sự mềm mại, mỏng manh. Điểm nhìn lãng mạn giúp Quang Dũng có được những phát hiện rất nên thơ như thế.

Trong đoạn thơ này của bài thơ Tây Tiến, ta thấy vang lên điệp khúc của những câu thơ có từ: “có thấy…có nhớ”. Ấy là sự gợi thức trong tâm hồn mình, là sự nhắc nhở mỗi chàng trai ra đi 36 phố phường hãy nhớ về Tây Bắc, về Tây Tiến như những hồi ước hào hùng 1 đi ko quay về.

Tóm lại, 8 câu thơ này trong bài thơ Tây Tiến như 1 bức tranh sơ với chỉ vài nét chấm phá tinh tế, mềm mại nhưng nhận được cái hồn của cảnh và người Tây Bắc. Cũng qua những hình ảnh thơ rực rỡ đấy, chúng ta còn cảm thu được vẻ đẹp của những người lính Tây Tiến – những chàng trai lãng mạn, đa tình, hào hoa.

Câu 4: Phân tích hình ảnh Tây Tiến được tác giả tập hợp khắc họa…

Phân tích hình ảnh Tây Tiến được tác giả tập hợp khắc họa ở đoạn thơ thứ 3. Qua ấy hãy làm rõ vẻ đẹp lãng mạn và chất bi hùng của hình ảnh người lính Tây Tiến.

Trả lời:

Bằng ngôn từ cởi mở, tác giả cho người đọc thấy được hiện thực trần truồng về hình ảnh người lính:

  • “ko mọc tóc”: có thể hiểu là sốt rét khiến cho các chiến sĩ rụng hết tóc, cũng có thể hiểu là hớt tóc đi để tiện những trận cận chiến.
  • “xanh màu lá”: có thể hiểu là quân thiếu thốn nên da xanh lướt, hoặc người lính phải dùng lá cây để ngụy trang tránh đối phương phát hiện.
  • “dữ oai hùm”: Tuy “xanh màu lá” mà có sức khỏe như hổ báo.
  • “dáng kiều thơm”: đây là hình ảnh những người con gái Hà Thành xinh đẹo. Ngày tranh đấu ngoan cường, tối về, người chiến sĩ vẫn 1 lòng hướng về hậu phương.

Câu 5: Ở đoạn thơ thứ tư, nỗi nhớ Tây Tiến được diễn đạt như thế nào?…

Ở đoạn thơ thứ tư, nỗi nhớ Tây Tiến được diễn đạt như thế nào? Tại sao thi sĩ viết  “Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”.

Trả lời:

Sông Mã xa rồi. Tây Tiến xa rồi. Ngồi ở Phù Lưu Chanh, Quang Dũng nhớ về trận mạc xưa và những người đồng chí cũ 1 thời tranh đấu cực kỳ gian nan nhưng rực lửa người hùng. Giữa thi sĩ và những ngày Tây Tiến có cả 1 khoảng cách thời kì và ko gian thăm thẳm

4 câu thơ hoàn thành bài thơ như 1 lời thề của người chiến sĩ Tây Tiến đi là ko hứa ngày về, hồn về Sầm Nứa để tiếp diễn trận chiến đấu với quân giặc chứ chưa muốn về xuôi lúc chưa xong xuôi nhiệm vụ.

=> Hình ảnh người lính Tây Tiến mang vẻ đẹp lãng mạn, đậm chất bi hùng cò có sức quyến rũ dài lâu đối với người đọc.

[Luyện tập] Câu 1: Văn pháp của Quang Dũng trong bài thơ là văn pháp hiện thực…

Văn pháp của Quang Dũng trong bài thơ là văn pháp hiện thực hay lãng mạn. Phân tích so sánh tác phẩm “Tây tiến” của Quang Dũng để làm rõ văn pháp ấy.

Trả lời:

Văn pháp của Quang Dũng trong bài thơ là văn pháp lãng mạn (khác với Chính Hữu dùng văn pháp tả chân trong bài Đồng đội). Văn pháp lãng mạn là vượt lên trên thực tại (thường là hà khắc) để vươn đến cái đẹp của lý tưởng, tìm cảm giác ở những nơi xứ lạ, phương xa hoặc tự nhiên hùng vĩ, mĩ lệ, thơ mộng. Nhà thơ thường dùng các thủ pháp cường điệu, thổi phồng, đối lập để tô đậm cái phi thường, gây ấn tượng mạnh về cái hùng vĩ, dữ dội và cái thơ mộng, tuyệt mĩ. Có thể so sánh với văn pháp tả chân trong bài Đồng đội của Chính Hữu như sau:

Tây Tiến Đồng đội

Áo bào thay chiếu anh về đất

Tây tiến đoàn binh ko mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

Áo anh rách vai

Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh

Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi

Đêm rét chung chăn, thành đôi tri âm

Với văn pháp lãng mạn, Quang Dũng mới phát huy được sở trường, hồn thơ của mình để đạt được thành công trong Tây Tiến, để lại cho đời 1 bài thơ bay bổng, say người, ngập tràn cảm hứng lãng mạn về hình ảnh 1 người lính đẹp và 1 trận mạc lịch sử hồi đầu cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc.

[Luyện tập] Câu 2: Qua bài thơ, anh/chị tưởng tượng như thế nào về chân dung…

Qua bài thơ, anh/chị tưởng tượng như thế nào về chân dung người lính Tây Tiến?

Trả lời:

I. Mở bài

  • Giới thiệu về tác giả Quang Dũng và bài thơ “Tây tiến”
  • Khái quát hình ảnh người lính tỏng bài thơ: Quang Dũng đã khắc họa hình tượng số đông những người lính Tây Tiến bằng văn pháp lãng mạn, thấm đẫm ý thức bi hùng.

II. Thân bài

1. Vẻ đẹp lãng mạn của người lính Tây Tiến

  • Giữa những hiểm trở đấy, hình tượng tiến quân của đoàn quân Tây Tiến càng phát triển thành hào hùng. Hình ảnh bi hùng của người lính Tây Tiến trên trận mạc, thi sĩ sử dụng giải pháp nói giảm nói tránh để giảm đi sự mất mát của đồng chí. Không những thế nó còn trình bày ý chí của người lính Tây Tiến coi cái chết nhẹ tựa 1 giấc ngủ, mỏi rồi ko muốn đi nữa nhưng “gục lên mũ súng”. Dù rằng bom đạn nổ lửa mà ý thức tranh đấu của các chiến sĩ chẳng phải sút giảm ==>  Tác giả đã trình bày nó mang 1 nỗi mất mát phệ lao, số lượng những người chiến sĩ nằm lại nơi trận mạc rất nhiều. Nó cướp đi tuổi thanh xuân cũng như gia đình của những người chiến sĩ 1 lòng chuyên dụng cho cho tổ quốc.
  • Bức tranh mĩ lệ, duyên dáng và đặc trưng là rất yên bình ngỡ như ko còn tiếng súng, ko còn chiến tranh, chết chóc của những nơi các anh đã đi qua in rõ tâm hồn người lính Tây Tiến lãng mạn, hào hoa, yêu đời.

Doanh trại bừng lên hội hoa chúc 

Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Khèn lèn man điệu nàng e ấp

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

  • Giữa đời sống, môi trường tranh đấu hà khắc, người lính Tây Tiến hiện lên bằng vẻ đẹp rất đỗi hào hùng, lãng mạn. (đoàn binh ko mọc tóc, quân xanh màu lá dữ oai hùm).

2. Chất bi hùng của hình tượng người lính Tây Tiến

  • Trên nền tự nhiên hoang sơ, hiểm trở người lính Tây Tiến hiện ra uy phong, lẫm liệt và đầy khí phách (hẻo lánh cồn mây súng ngửi trời → Dáng dấp con người đứng trên quang cảnh tự nhiên đấy)
  • Hình ảnh người lính Tây Tiến với những điều phi thường đã tô đậm nét đẹp bi hùng về người lính và làm rạng ngời vẻ đẹp lí tưởng và triết lí sống cao cả của tuổi xanh (dãi dầu ko bước nữa, quên mất đời, Tản mạn biên thuỳ mồ viễn xứ/ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh, Áo bào thay chiếu anh về đất/ Sông Mã gầm lên khúc độc hành à nhấn mạnh: thái độ khí phách hiên ngang trước cái chết)
  • Người lính Tây Tiến còn mang vẻ đẹp lãng mạn, hào hoa. Ấy là chất hào hoa, tao nhã, chất mộng mơ lãng mạn, ngập tràn ý thức sáng sủa tươi trẻ. (Mắt trừng gởi mộng qua biên cương/ Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm)

=> Quang Dũng ko khắc họa hình ảnh của 1 người lính nhưng cả 1 đoàn quân Tây Tiến oai hùng, hiên ngang giữa đất trời Tây Bắc. Đoàn quân Tây Tiến đi vào dòng văn chương giang san như 1 hình tượng nghệ thuật thâm thúy của mảng văn chương thời kháng chiến.

III. Kết bài

  • Tây Tiến là sự kết tinh những sắc thái vừa lạ mắt vừa nhiều chủng loại của ngòi bút Quang Dũng. Nhà thơ đã thông minh được hình tượng số đông những người lính Tây Tiến, mô tả được vẻ đẹp ý thức của những con người điển hình cho 1 thời gian lịch sử 1 đi ko quay về.
  • Thơ ca kháng chiến chống Pháp đã mô tả thành công hình ảnh người lính. Và Quang Dũng, qua bài thơ Tây Tiến nổi danh của mình, đã góp vào viện cơ quan sưu tầm hình ảnh những người lính ấy bức chân dung người lính Tây Tiến rất lạ mắt của mình

.


Thông tin thêm về Bài soạn lớp 12: Tây Tiến

Chỉ dẫn soạn bài: Tây Tiến – Trang 87 sgk ngữ văn 12 tập 1. Tất cả các câu hỏi trong bài học đều được giải đáp phân minh và dễ hiểu. Với cách soạn sau, các em học trò sẽ nắm tốt nội dung bài học. Ngoài ra, nếu có câu hỏi nào, các em comment phía dưới để thầy cô trả lời

Câu giải đáp:

Mày mò chung tác phẩm

  • Tác giả: (1921-1988)
    • Tên thật là Bùi Đình Diệm.
    • Quê ở Hà Tây.
    • Có nhiều tài năng: vẽ tranh, viết văn, làm thơ, sáng tác nhạc,…
    • Phong cách thơ: khoáng đạt, lãng mạn, tài ba.
    • Tác phẩm điển hình: 
      • Truyện, ký: Mùa hoa gạo, Rừng về xuôi, Nhà đồi…
      • Thơ: Bài thơ sông Hồng, Mây đầu ô …
  • Tác phẩm:
    • Hoàn cảnh sáng tác
      • Quang Dũng là đại đội trưởng đơn vị Tây tiến thành lập 5 1947.
      • 1 5 sau Quang Dũng chuyển sang đơn vị khác. Khi ngồi ở Phù Lưu Chanh nhớ đơn vị cũ anh sáng tác bài thơ “Tây Tiến”.
    • Bố cục: 4 phần
      • Phần 1: Đoạn 1 – những cuộc tiến quân gian nan, kiêu hãnh nơi miền Tây hiểm trở, thơ mộng.
      • Phần 2: Đoạn 2 – Những kỉ niệm đẹp của đời lính gắn với cảnh sắc và con người miền Tây
      • Phần 3: Đoạn 3 – Chân dung người lính Tây Tiến 
      • Phần 4: Đoạn 4 – Tây Tiến, những 5 tháng chẳng thể quên.

Câu 1: Theo văn bản, bài thơ có 4 đoạn. Nêu ý chính của mỗi đoạn…

Theo văn bản, bài thơ có 4 đoạn. Nêu ý chính của mỗi đoạn và chỉ ra mạch kết hợp giữa các đoạn.

Trả lời:

Bài thơ chia làm 4 đoạn sau:

  • Phần 1: Đoạn 1 – cảm hứng từ cuộc hành trình đầy gian nan của đoàn quân Tây Tiến.
  • Phần 2: Đoạn 2 – kỉ niệm về tình lang dân và quang cảnh sông nước miền tây.
  • Phần 3: Đoạn 3 – hình tượng người lính Tây Tiến,  đây là đoạn nói về nỗi nhớ đồng chí da diết của tác giả đối với những người chiến sĩ đồng chí của mình.
  •  Phần 4: Đoạn 4 – Tây Tiến những 5 tháng chẳng thể quên

= > Bài thơ được sáng tác trong nỗi nhớ da diết của thi sĩ Quang Dũng với đồng chí và đơn vị cũ. Nỗi nhớ đấy gắn liền với tự nhiên Tây Bắc hùng vĩ thơ mộng.

Câu 2: Nét rực rỡ của bức tranh tự nhiên được vẽ tra ở đoạn thơ thứ nhất?…

Nét rực rỡ của bức tranh tự nhiên được vẽ tra ở đoạn thơ thứ nhất? Hình ảnh đoàn quânTây Tiến xuất hiện trên nền cảnh tự nhiên đấy như thế nào?

Trả lời:

4 câu thơ đầu: thi sĩ nhắc đến ngay tới nỗi nhớ Tây Tiến gắn liền với sông Mã, với núi rừng Tây Bắc. Ấy là 1 nỗi nhớ chơi vơi => điệp vần “ơi” làm cho ta thấy được nỗi nhớ đấy mênh mang da diết tới mức nào.

Các địa danh tiến quân được nói đến như Sài Khao Mường Lát. Đoàn quân Tây Tiến phải đi từ rất sớm lúc trời vẫn còn sương và về lúc đêm đã buông kín lối.

4 câu thơ trình bày nỗi nhớ trước tiên của thi sĩ về đơn vị cũ. Nó gắn liền với con sông Mã với những cuộc tiến quân từ sáng sớm tinh sương cho tới tối đen như mực

4 câu thơ tiếp: Bức tranh tự nhiên Tây bắc hiện lên hùng vĩ và thơ mộng. 4 câu thơ nhưng trong ấy phần lớn là vần Trắc liên kết với các từ láy như ‘khuất khúc”, “thăm thẳm”, hình thành sự trắc trở gian lao của tự nhiên nhưng hàng ngày người lính phải đi qua

Câu cuối toàn vần bằng, gợi lên sau những giây phút tiến quân gian nan thì đoàn quân Tây Tiến trở về với cảm giác an toàn nhẹ nhõm hoàn thành 1 hành trình

 Những câu thơ tiếp theo: Giữa những hiểm trở đấy, hình tượng tiến quân của đoàn quân Tây Tiến càng phát triển thành hào hùng. Hình ảnh bi hùng của người lính Tây Tiến trên trận mạc, thi sĩ sử dụng giải pháp nói giảm nói tránh để giảm đi sự mất mát của đồng chí. Không những thế nó còn trình bày ý chí của người lính Tây Tiến coi cái chết nhẹ tựa 1 giấc ngủ, mỏi rồi ko muốn đi nữa nhưng “gục lên mũ súng”. Dù rằng bom đạn nổ lửa mà ý thức tranh đấu của các chiến sĩ chẳng phải sút giảm 

=>  Tác giả đã trình bày nó mang 1 nỗi mất mát phệ lao, số lượng những người chiến sĩ nằm lại nơi trận mạc rất nhiều. Nó cướp đi tuổi thanh xuân cũng như gia đình của những người chiến sĩ 1 lòng chuyên dụng cho cho tổ quốc.

Câu 3: Đoạn thơ thứ 2 lại mở ra 1 toàn cầu khác với những vẻ đẹp…

Đoạn thơ thứ 2 lại mở ra 1 toàn cầu khác với những vẻ đẹp mới của con người và tự nhiên miền Tây, khác với cảnh vật ở đoạn thơ thứ nhất. Hãy phân tách để làm rõ vẻ đẹp đấy.

Trả lời:

Ví như ở khổ thơ 1 bài thơ ‘Tây Tiến”, thi sĩ đã khắc họa những hình ảnh dữ dội của núi rừng Tây Bắc thì ở đoạn thơ thứ 2 này thì Quang Dũng đã đưa ta vào 1 quang cảnh khác: 1 quang cảnh rất mỹ lệ, duyên dáng, tươi mát của núi rừng Tây Bắc. Cảm hứng lãng mạn được phân thành 2 phần rõ rệt tách biệt nhau và hướng tới hình ảnh người lính trong đêm liên hoan doanh trại và vẻ đẹp Tây Bắc 1 chiều sương. Những nét vẽ bạo khỏe, gân guốc đã được thay bằng những nét mềm mại, tinh tế, tài ba.

Trcửa ải qua những phút chốc tiến quân gian nan, những người lính còn có những giờ phút giao lưu văn nghệ với đồng bào Tây Bắc. gọi là “doanh trại” bởi Quang Dũng theo cảm hứng lãng mạn, có nhẽ hiện thực là 1 đêm văn nghệ giản dị nhưng ấp áp trên chặng tiến quân dặm dài gian nan. Không khí liên hoan tràn trề cả âm thanh, ánh sáng, dáng bộ con người:

“Doanh trại bừng lên hội hoa chúc

Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Khèn lên man điệu nàng e ấp

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”

Đảo ngữ “bừng lên hội hoa chúc” liên kết với động từ “bừng” tạo ấn tượng về 1 thứ ánh sáng bất thần, tựa như có hàng nghìn có đuốc đột ngột thắp lên cháy sáng cả núi rừng trong đêm. Đôi mắt lãng mạn, tính từ của Quang Dũng đã ví những ngọn đuốc ấy như “hoa chúc” – ngọn đuốc cháy trong đêm tân hôn – ngầm chỉ 1 sự kết duyên gặp mặt giữa những người lính Tây Tiến trẻ trung hào hoa với dân chúng Tây Bắc. Trên cán nền ánh sáng lửa lung linh đấy, nổi trội là dáng hình uyển chuyển, dịu dàng theo điệu khèn của những thanh nữ Tây Bắc, và cũng ko giấu nổi sự kinh ngạc, ánh nhìn tình tứ của những người lính trẻ trước vẻ đẹp xứ người. Cái dáng bộ “e ấp” được soi chiếu qua đôi mắt hào hoa của những con người lần đầu đặt chân tới Tây Bắc gợi 1 vẻ đẹp bí mật, 1 sự phát hiện trước những nét đẹp văn hóa Tây Bắc. Thêm vào ấy là những “man điệu” – những điệu múa, điệu nhạc lạ như chất xúc tác gợi cái tình tứ, ham mê thưởng thức. Cái chất hào hoa, lãng mạn, đa tình này chừng như là “đặc sản” của những người lính trong thời gian kháng chiến chống Pháp, lúc họ đông đảo là thanh niên học trò kiến thức, xếp bút nghiên cầm súng lên đường theo tiếng gọi của quê hương. Câu thơ thứ tư của bài thơ Tây Tiến cốt yếu là thanh bằng, tạo cảm giác nhẹ nhõm, bay bổng trong tâm hồn của người lính” “Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”. Âm nhạc cất lên hòa điệu với tâm hồn thơ mộng, gọi về cái mơ mộng, đưa tâm hồn phiêu du vượt qua giới hạn của ko gian, của biên cương, để xây cất hồn thơ – mơ tới Viên Chăn – mơ tới ngày thắng lợi. Hình ảnh thơ mỹ lệ mà chẳng phải thoát ly cuộc sống, ngược lại có công dụng nâng đỡ tâm hồn con người, động viên những người lính và mở ra khát vọng hòa bình cho tổ quốc.

4 câu thơ đầu bài thơ Tây Tiến giúp ta cảm thu được cái tâng bừng, tấp nập trong đêm liên hoan ấm tình lang dân. 4 câu thơ sau lại tiếp diễn mạch xúc cảm của toàn bài thơ Tây Tiến, đấy là nỗi nhớ về những khoảng ko gian sông nước đầy chất thơ của tây bắc:

“Người đi Châu Mộc chiều sương đấy

Có thấy hồn lau nẻo bờ bến

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đu đưa”

Tây Bắc đẹp – thơ một- trữ tĩnh với bát ngát sông nước, lãng đãng sương giăng, với 2 bên bờ là ngút ngàn lau, và đâu ấy nhấp nhoáng bóng người, bóng hoa. Không gian và thời kì được mở ra qua cụm từ “chiều sương”: trong phút giây cuối ngày, khắp đất trời chìm trong màn sương bập bềnh, lãng đãng rất đặt trưng cho núi rừng Tây Bắc. Nhớ Tây Bắc là những người ta hay nhớ về những cánh đồng lau ngút ngàn trắng như thế, cái hồn của lau kéo theo cái hồn người là tương tự!

Nhớ về Tây Bắc còn là nhớ cái “dáng người trên độc mộc” – gợi vẻ đẹp khỏe khoắn của những chàng trai, những cô gái, những người dân Tây Bắc trên con thuyền độc mộc lao trên sóng nước. Cảm hứng truyền tụng những con người đấy ta cũng gặp trong hình ảnh người lá đò Mai Châu trong tác phẩm “Người lá đò sông Đà” của Nguyễn Tuân. Đặc trưng là hình ảnh những bông hoa rừng “đu đưa” trôi theo dòng nước lũ. Trong cái hà khắc dữ dội vẫn luôn có vẻ đẹp của sự mềm mại, mỏng manh. Điểm nhìn lãng mạn giúp Quang Dũng có được những phát hiện rất nên thơ như thế.

Trong đoạn thơ này của bài thơ Tây Tiến, ta thấy vang lên điệp khúc của những câu thơ có từ: “có thấy…có nhớ”. Ấy là sự gợi thức trong tâm hồn mình, là sự nhắc nhở mỗi chàng trai ra đi 36 phố phường hãy nhớ về Tây Bắc, về Tây Tiến như những hồi ước hào hùng 1 đi ko quay về.

Tóm lại, 8 câu thơ này trong bài thơ Tây Tiến như 1 bức tranh sơ với chỉ vài nét chấm phá tinh tế, mềm mại nhưng nhận được cái hồn của cảnh và người Tây Bắc. Cũng qua những hình ảnh thơ rực rỡ đấy, chúng ta còn cảm thu được vẻ đẹp của những người lính Tây Tiến – những chàng trai lãng mạn, đa tình, hào hoa.

Câu 4: Phân tích hình ảnh Tây Tiến được tác giả tập hợp khắc họa…

Phân tích hình ảnh Tây Tiến được tác giả tập hợp khắc họa ở đoạn thơ thứ 3. Qua ấy hãy làm rõ vẻ đẹp lãng mạn và chất bi hùng của hình ảnh người lính Tây Tiến.

Trả lời:

Bằng ngôn từ cởi mở, tác giả cho người đọc thấy được hiện thực trần truồng về hình ảnh người lính:

  • “ko mọc tóc”: có thể hiểu là sốt rét khiến cho các chiến sĩ rụng hết tóc, cũng có thể hiểu là hớt tóc đi để tiện những trận cận chiến.
  • “xanh màu lá”: có thể hiểu là quân thiếu thốn nên da xanh lướt, hoặc người lính phải dùng lá cây để ngụy trang tránh đối phương phát hiện.
  • “dữ oai hùm”: Tuy “xanh màu lá” mà có sức khỏe như hổ báo.
  • “dáng kiều thơm”: đây là hình ảnh những người con gái Hà Thành xinh đẹo. Ngày tranh đấu ngoan cường, tối về, người chiến sĩ vẫn 1 lòng hướng về hậu phương.

Câu 5: Ở đoạn thơ thứ tư, nỗi nhớ Tây Tiến được diễn đạt như thế nào?…

Ở đoạn thơ thứ tư, nỗi nhớ Tây Tiến được diễn đạt như thế nào? Tại sao thi sĩ viết  “Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”.

Trả lời:

Sông Mã xa rồi. Tây Tiến xa rồi. Ngồi ở Phù Lưu Chanh, Quang Dũng nhớ về trận mạc xưa và những người đồng chí cũ 1 thời tranh đấu cực kỳ gian nan nhưng rực lửa người hùng. Giữa thi sĩ và những ngày Tây Tiến có cả 1 khoảng cách thời kì và ko gian thăm thẳm

4 câu thơ hoàn thành bài thơ như 1 lời thề của người chiến sĩ Tây Tiến đi là ko hứa ngày về, hồn về Sầm Nứa để tiếp diễn trận chiến đấu với quân giặc chứ chưa muốn về xuôi lúc chưa xong xuôi nhiệm vụ.

=> Hình ảnh người lính Tây Tiến mang vẻ đẹp lãng mạn, đậm chất bi hùng cò có sức quyến rũ dài lâu đối với người đọc.

[Luyện tập] Câu 1: Văn pháp của Quang Dũng trong bài thơ là văn pháp hiện thực…

Văn pháp của Quang Dũng trong bài thơ là văn pháp hiện thực hay lãng mạn. Phân tích so sánh tác phẩm “Tây tiến” của Quang Dũng để làm rõ văn pháp ấy.

Trả lời:

Văn pháp của Quang Dũng trong bài thơ là văn pháp lãng mạn (khác với Chính Hữu dùng văn pháp tả chân trong bài Đồng đội). Văn pháp lãng mạn là vượt lên trên thực tại (thường là hà khắc) để vươn đến cái đẹp của lý tưởng, tìm cảm giác ở những nơi xứ lạ, phương xa hoặc tự nhiên hùng vĩ, mĩ lệ, thơ mộng. Nhà thơ thường dùng các thủ pháp cường điệu, thổi phồng, đối lập để tô đậm cái phi thường, gây ấn tượng mạnh về cái hùng vĩ, dữ dội và cái thơ mộng, tuyệt mĩ. Có thể so sánh với văn pháp tả chân trong bài Đồng đội của Chính Hữu như sau:

Tây Tiến Đồng đội

Áo bào thay chiếu anh về đất

Tây tiến đoàn binh ko mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

Áo anh rách vai

Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh

Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi

Đêm rét chung chăn, thành đôi tri âm

Với văn pháp lãng mạn, Quang Dũng mới phát huy được sở trường, hồn thơ của mình để đạt được thành công trong Tây Tiến, để lại cho đời 1 bài thơ bay bổng, say người, ngập tràn cảm hứng lãng mạn về hình ảnh 1 người lính đẹp và 1 trận mạc lịch sử hồi đầu cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc.

[Luyện tập] Câu 2: Qua bài thơ, anh/chị tưởng tượng như thế nào về chân dung…

Qua bài thơ, anh/chị tưởng tượng như thế nào về chân dung người lính Tây Tiến?

Trả lời:

I. Mở bài

  • Giới thiệu về tác giả Quang Dũng và bài thơ “Tây tiến”
  • Khái quát hình ảnh người lính tỏng bài thơ: Quang Dũng đã khắc họa hình tượng số đông những người lính Tây Tiến bằng văn pháp lãng mạn, thấm đẫm ý thức bi hùng.

II. Thân bài

1. Vẻ đẹp lãng mạn của người lính Tây Tiến

  • Giữa những hiểm trở đấy, hình tượng tiến quân của đoàn quân Tây Tiến càng phát triển thành hào hùng. Hình ảnh bi hùng của người lính Tây Tiến trên trận mạc, thi sĩ sử dụng giải pháp nói giảm nói tránh để giảm đi sự mất mát của đồng chí. Không những thế nó còn trình bày ý chí của người lính Tây Tiến coi cái chết nhẹ tựa 1 giấc ngủ, mỏi rồi ko muốn đi nữa nhưng “gục lên mũ súng”. Dù rằng bom đạn nổ lửa mà ý thức tranh đấu của các chiến sĩ chẳng phải sút giảm ==>  Tác giả đã trình bày nó mang 1 nỗi mất mát phệ lao, số lượng những người chiến sĩ nằm lại nơi trận mạc rất nhiều. Nó cướp đi tuổi thanh xuân cũng như gia đình của những người chiến sĩ 1 lòng chuyên dụng cho cho tổ quốc.
  • Bức tranh mĩ lệ, duyên dáng và đặc trưng là rất yên bình ngỡ như ko còn tiếng súng, ko còn chiến tranh, chết chóc của những nơi các anh đã đi qua in rõ tâm hồn người lính Tây Tiến lãng mạn, hào hoa, yêu đời.

Doanh trại bừng lên hội hoa chúc 

Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Khèn lèn man điệu nàng e ấp

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

  • Giữa đời sống, môi trường tranh đấu hà khắc, người lính Tây Tiến hiện lên bằng vẻ đẹp rất đỗi hào hùng, lãng mạn. (đoàn binh ko mọc tóc, quân xanh màu lá dữ oai hùm).

2. Chất bi hùng của hình tượng người lính Tây Tiến

  • Trên nền tự nhiên hoang sơ, hiểm trở người lính Tây Tiến hiện ra uy phong, lẫm liệt và đầy khí phách (hẻo lánh cồn mây súng ngửi trời → Dáng dấp con người đứng trên quang cảnh tự nhiên đấy)
  • Hình ảnh người lính Tây Tiến với những điều phi thường đã tô đậm nét đẹp bi hùng về người lính và làm rạng ngời vẻ đẹp lí tưởng và triết lí sống cao cả của tuổi xanh (dãi dầu ko bước nữa, quên mất đời, Tản mạn biên thuỳ mồ viễn xứ/ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh, Áo bào thay chiếu anh về đất/ Sông Mã gầm lên khúc độc hành à nhấn mạnh: thái độ khí phách hiên ngang trước cái chết)
  • Người lính Tây Tiến còn mang vẻ đẹp lãng mạn, hào hoa. Ấy là chất hào hoa, tao nhã, chất mộng mơ lãng mạn, ngập tràn ý thức sáng sủa tươi trẻ. (Mắt trừng gởi mộng qua biên cương/ Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm)

=> Quang Dũng ko khắc họa hình ảnh của 1 người lính nhưng cả 1 đoàn quân Tây Tiến oai hùng, hiên ngang giữa đất trời Tây Bắc. Đoàn quân Tây Tiến đi vào dòng văn chương giang san như 1 hình tượng nghệ thuật thâm thúy của mảng văn chương thời kháng chiến.

III. Kết bài

  • Tây Tiến là sự kết tinh những sắc thái vừa lạ mắt vừa nhiều chủng loại của ngòi bút Quang Dũng. Nhà thơ đã thông minh được hình tượng số đông những người lính Tây Tiến, mô tả được vẻ đẹp ý thức của những con người điển hình cho 1 thời gian lịch sử 1 đi ko quay về.
  • Thơ ca kháng chiến chống Pháp đã mô tả thành công hình ảnh người lính. Và Quang Dũng, qua bài thơ Tây Tiến nổi danh của mình, đã góp vào viện cơ quan sưu tầm hình ảnh những người lính ấy bức chân dung người lính Tây Tiến rất lạ mắt của mình

.

#Bài #soạn #lớp #Tây #Tiến


  • Tổng hợp: Blog Tiền Điện Tử
  • #Bài #soạn #lớp #Tây #Tiến
Back to top button