Bài soạn lớp 12: Nghị luận về một ý kiến bàn về văn học


Chỉ dẫn soạn bài: Nghị luận về 1 bài thơ, đoạn thơ – Trang 84 sgk ngữ văn 12 tập 1. Tất cả các câu hỏi trong bài học đều được giải đáp phân minh và dễ hiểu. Với cách soạn sau, các em học trò sẽ nắm tốt nội dung bài học. Ngoài ra, nếu có câu hỏi nào, các em comment phía dưới để thầy cô trả lời.

Câu giải đáp:

1. Khái niệm:

  • Quan điểm bàn về văn chương là giám định (khen hay chê) về tác giả, tác phẩm, văn chương sử, lý luận văn chương….
  • Nghị luận về quan điểm văn chương là giai đoạn áp dụng nhiều thao tác lập luận như giảng giải, chứng minh, phân tách, bình luận, bình giải, so sánh, phản bác…để khiến cho người đọc, người nghe hiểu sâu quan điểm ở nhiều giác độ không giống nhau.

2. Mày mò đề và lập dàn ý

Đề bài: Nhà nghiên cứu Đặng Thai Mai cho rằng: “Nhìn chung văn chương Việt Nam phong phú, nhiều chủng loại; nhưng mà nếu cần xác định 1 chủ lưu, 1 dòng chính, quán thông cổ lai, thì đấy là văn chương yêu nước”.

(Dẫn theo Trần Văn Giàu, hợp tuyển, NXB Giáo dục 2001)

Mày mò đề:

  • Ý nghĩa của các từ ngữ:
    • Phong phú, nhiều chủng loại: có nhiều tác phẩm với nhiều bề ngoài, thể loại không giống nhau.
    • Chủ lưu: dòng chính (bộ phận chính), khác với phụ lưu, chi lưu.
    • Quán thông cổ lai: hiểu rõ từ xưa cho tới hiện tại.
  • Nội dung của giám định nêu ở đề bài: Văn chương Việt Nam có rất nhiều tác phẩm với nhiều bề ngoài và thể loại không giống nhau, nhưng mà bộ phận chính hiểu rõ từ xưa cho tới hiện tại là văn chương yêu nước.
    • Đề nghị về cách thức: Gicửa ải thích, phân tách, chứng minh, so sánh, bình luận.
    • Đề nghị về tư liệu: Các tác phẩm văn chương Việt Nam.

Lập dàn ý:

Mở bài:

  • Dẫn dắt vào đề : VHVN phong phú, nhiều chủng loại với 2 đề tài bự là yêu nước và nhân đạo.
  • Trích dẫn quan điểm của Đặng Thai Mai.

Thân bài:

  • Gicửa ải thích nội dung quan điểm:
  • Bình chọn: Quan điểm hoàn toàn đúng:
    • Cuộc sống con người Việt Nam phong phú, nhiều chủng loại -> văn chương phản ảnh -> phong phú, nhiều chủng loại.
    • Chứng minh:
      • Văn chương mô tả, trình bày, bình chọn tự nhiên, con người, xã hội dưới nhiều giác độ, tình cảm (thương cảm, ngợi ca, phê phán, lên án, cáo giác, cười chê, giáo huấn)
      • Bằng nhiều văn pháp: ngụ ngôn, huyền thoại, thổi phồng, trữ tình, hiện thực, lãng mạn…
      • Nhiều tác phẩm với nhiều bề ngoài thể loại (VHDG gần 10 thể loại, VH viết phần đông đầy đủ)
  • Lịch sử dân tộc Việt Nam -> chống nhiều thần thế ngoại xâm -> văn chương khích lệ -> văn chương yêu nước.
    • Chứng minh:
      • VHDG: ca dao, truyền thuyết… ngợi ca cảnh quan, người hùng cứu nước
      • VH viết: Nam quốc nước nhà, Hịch tướng sĩ, Đại cáo bình Ngô, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Tuyên ngôn độc lập, …

Thể loại phong phú, nhiều chủng loại: thơ, cáo, hịch, văn tế, văn xuôi, chữ Hán, chữ Nôm, chữ Quốc ngữ, tiếng Pháp… 

  • Kết bài:
    • Khẳng định chung về quan điểm: Là người Việt Nam, cần nắm tình cảnh lịch sử quốc gia và đặc điểm dân tộc.
    • Giá trị của quan điểm: Giúp ta nhìn rõ và khắc sâu điều đấy

Ghi nhớ:

  • Nhân vật nghị luận về 1 quan điểm bàn về văn chương rất nhiều chủng loại: Về văn chương sử, về lí luận văn chương, về tác phẩm văn chương…
  • Việc nghị luận về 1 quan điểm bàn về văn chương thường tập hợp và giảng giải, nêu ý nghĩa và tính năng của quan điểm đấy đối với văn chương và đời sống.

[Luyện tập] Câu 1: Bình luận quan điểm sau đây của nhà văn Thạch Lam về văn học:…

Bình luận quan điểm sau đây của nhà văn Thạch Lam về văn học: Văn học là 1 thứ khí giới thanh cao và đắc lực nhưng mà chúng ta có để vừa cáo giác và chỉnh sửa 1 toàn cầu điêu trá và gian ác, vừa khiến cho lòng người thêm trong lành và phong phú hơn.

Trả lời:

Lập dàn ý:

a. Mở bài: 

  • Giới thiệu tác giả Thạch Lam.
  • Trích dẫn quan điểm của Thạch Lam về tác dụng của văn chương.

b.Thân bài:

  • Gicửa ải thích về ý nghĩa câu nói: Thạch Lam nêu lên tác dụng mập bự và cao cả của văn chương.
  • Bình luận và chứng minh quan điểm: Đấy là 1 ý kiến rất đúng mực về trị giá văn chương: 

c:Kết bài:

  • Khẳng định sự đúng mực và tân tiến trong ý kiến sáng tác của Thạch Lam.
  • Nêu tính năng của quan điểm trên đối với người đọc:
    • Hiểu và giám định đúng trị giá của tác phẩm văn chương.
    • Trân trọng, yêu mến và giữ giàng những tác phẩm văn chương tân tiến của từng giai đoạn. 

Bài mẫu:

Có nhẽ Thạch Lam đã nghĩ suy đúng lúc ông khẳng định “…Đối với tôi, văn học chẳng hề là 1 cách mang đến cho người đọc sự thoát li hay sự quên”. Thoái li, đây là 1 cách xa vắng cuộc sống, làm tươi mát cho cuộc sống để con người hiểu được hơn về cuộc sống mình đang sống và từ đấy quyết tâm khiến cho cuộc sống tốt hơn lên. Đối với con người thì có rất nhiều cách yêu cuộc sống, ở người này yêu bằng 1 cách, ở người kia lại yêu băng cách khác.

Thạch Lam ko muốn người đọc có thể tìm thấy 1 chút nào sự chán ngán muốn xã rời hiện thực, quên cuộc sống trong tác phẩm văn học của ông. Không dẫm vào trục đường của các nhà văn lãng mạn (dù Thạch Lam cũng là nhà văn lãng mạn, hơn nữa lại là 1 trong những người chủ đạo của nhóm Tự Lực Văn Đoàn) theo trục đường tìm tới cõi quên, nhưng mà Thạch Lam lại muốn hướng dòng văn của mình chảy về hướng trái lại, hướng trở về cuộc đời thực. Quan niệm của ông là như thế và chính các tác phẩm của ông cũng chứng tỏ rất rõ điều đấy trong 1 số tác phẩm của mình, những tác phẩm gần cận với hiện thực chiếm hầu như phần nhiều. Văn học Thạch Lam ko nói những gì cao xa nhưng mà đều là những mảnh đời thường dung dị và rất thân quen.

Nhưng nếu văn học ko “mang đến cho người đọc sự thoát li hay sự quên” thì văn học phải là như thế nào ? Đấy cũng chính là vấn đề trọng điểm nhưng mà Thạch Lam nêu lên. “ Văn học là thứ khí giới thanh cao và đắc lực nhưng mà chúng ta có để vừa cáo giác và chỉnh sửa 1 cái toàn cầu điêu trá và gian ác, vừa khiến cho lòng người được thêm trong lành và phong phú hơn”.

Quan niệm này rất đúng, văn học cần thế và phải thế. Đấy chính là sức mạnh của văn học nếu nhà văn nào biết tận dụng triệt để. “Thứ khí giới thanh cao và đắc lực” ở đây chẳng hề để chỉ các súng ống, gậy gộc nhưng mà chúng ta thường gọi là vũ khí, nhưng mà chính là sức mạnh cùa ngòi bút nhà văn, nhựa sống phá mãnh liệt của văn học. Từ xưa, văn học luôn tiềm tàng 1 sức mạnh lo bự nhưng mà nếu người nào biết “điểm trúng huyệt”. Có thể làm lung lay những thành trì vững chãi nhất. Nhưng ở đây, những “khí giới thanh cao và đắc lực”, có nghĩa văn học là 1 thứ vũ khí cao thượng và rất trong lành, chẳng hề là thứ vũ khí phổ biến có thể sử dụng vào bất kỳ mục tiêu nào, dù mục tiêu đấy có xâu xa tới đâu cũng mang đến kết quả. Không, chẳng thể thế.  Ê-luya đã từng nói “Nhà văn là người hữu dụng nhất trong tập thể của mình”. Do đấy chẳng thể đem văn học làm 1 thứ vũ khí phi nghệ thuật. Nhà văn phải dùng văn học “thứ khí giới thanh cao và đắc lực” để “cáo giác và chỉnh sửa 1 toàn cầu gian dối và gian ác”. Đấy chính là mục tiêu chân chính của văn học. Vãn chương mang đến cho con người lòng yêu cuộc sống, gần cận với cuộc sống. Nhưng văn học cũng có nhiệm vụ cáo giác, cải tạo cuộc sống, xã hội cũ đề loại trừ cái xấu xa, gian ác nhưng mà trở về với cái tốt đẹp. Văn học ko mang đến cho người đọc sự thoát li, sự lãng quên, nghĩa là văn học khuyên con người hãy trở về thực tại. Văn học cũng phải biết dùng sức mạnh của thứ vũ khí thanh cao của mình để giúp con người được sống trong 1 xã hội tốt đẹp. Hai nhiệm vụ đấy tưởng như ko quan hệ với nhau nhưng mà thực ra liên can rất chặt chẽ. Đã tiến hành trách nhiệm này thì trách nhiệm kia văn học cũng chẳng thể từ bỏ. Có rất nhiều tác phẩm của các nhà văn đã tiến hành tuyệt vời nhiệm vụ “cáo giác và chỉnh sửa cái toàn cầu gian sảo và gian ác” đấy. Trong Những người khốn khổ. Vichto Huygô cũng ko ngại ngần lúc sử dụng vô cùng mạnh “như bom đạn” của ngòi bút để cáo giác thật quyết liệt cái xã hội Pháp “điêu trá và gian ác”, cái xã hội đã đày đoạ những con người tốt đẹp như Giăng Van – giăng, Côdét vào sự đau buồn, sự cùng cực. Lép Tônxtôi, qua Anna Karerina, cũng lên án mạnh bạo xã hội Nga Hoàng đã chiếm đoạt hạnh phúc và đẩy những người nữ giới đáng thương, khao khát hạnh phúc như Anna vào cái chết chẳng thể cứu vãn được.

Qua vũ khí “thanh cao và đắc lực” của mình,văn học ko chỉ cáo giác xã lội, nhưng mà qua sự cáo giác, văn học còn hướng đến mục tiêu cao cả là “chỉnh sửa” cái xã hội đấy : tức là văn học chẳng hề cáo giác cốt để dìm sâu “cái toàn cầu giả dốì và gian ác” xuống vũng bùn đen, nhưng mà phải tìm cách nâng cái toàn cầu đấy lên, gạn lại những thực chất của nó để từ đấy tăng trưởng lên. Sự chỉnh sửa đấy, văn học chẳng thể tự đảm nhận được, nhưng mà văn học cũng đóng góp 1 phần quan trọng vào giai đoạn chỉnh sửa những nét điêu trá và gian ác của cái tã hội hung ác đầy cá thần thế mờ ám. Ta có thể thấy rất rõ rằng các tác phẩm của các nhà văn, trong đấy có cả Thạch Lam, ngoài mục tiêu cáo giác xã hội ra, còn hướng người đọc tới niềm tin “cái toàn cầu điêu trá và gian ác” trong mai sau sẽ chỉnh sửa, do lược lượng này hoặc lực lượng khác, và sẽ trở thành tốt đẹp. Nhưng những điều này, ta sẽ ko tìm thấy được ở các tác phẩm của các nhà văn lãng mạn như Khcửa ải Hưng, Nhất Linh, Hoàng Đạo, bởi vì các quan niệm văn học của những nhà tiểu thuyết Tự Lực Văn Đoàn đấy khác với quan niệm của Thạch Lam, 1 nhà văn đã khá gần với các nhà văn hiện thực đương thời.

Văn học ko chỉ cốt dùng vũ khí của mình để chỉnh sửa và cáo giác xã hội, nhưng mà văn học còn phải “khiến cho lòng người đọc được thêm trong lành và phong phú hớn”. Quan niệm này hoàn toàn đúng . Đây chính là cái cao cả nhất nhưng mà văn học chân chính muốn vươn đến và cũng chính là 1 trong các tác dụng của văn chương: tác dụng giáo dục .Bản thân con người xoành xoạch vươn đến sự chu toàn của chân, thiện, mĩ. Quá trình vươn lên này của con người có nhiều nhân tố khác tương trợ, trong đấy 1 nhân tố khá quan trọng là văn học, văn học làm “lòng người được thêm trong lành và phong phú”, có tức là văn học đã tạo điều kiện cho những tình cảm trong tâm hồn con người trở thành trong trắng hơn, xinh xắn hơn, cao thượng hơn và dồi dào hơn. Nhân vật chuyên dụng cho của văn chướng chính là con người, do đấy những tác phẩm có trị giá nhất là những tác phẩm chuyên dụng cho đắc lực cho con người, tạo điều kiện cho con người “người” hơn.

Lênin đã từng nói: “Không có tình cảm thì sẽ ko bao giờ và chẳng thể có sự tìm tòi của con người và chân lý”. Chính văn học đã làm giàu thêm tình cảm con người. Văn học cũng giáo dục con người tìm những cái tốt đẹp những phẩm chât trong trắng, từ đấy giúp con người nhận thức được chính bản thân và quyết tâm hoàn thiện mình.

Từ xưa cho tới hiện tại, văn học luôn tìm cách giáo dục con người. Ngô Thì Nhậm đã từng nói đại ý: văn phải ngăn dự phòng điều xấu, khuyến khích điều hay, đấy mới chính là trị giá chính xác của văn học. Nhà văn Nam Cao cũng đã lừng nói ý này : 1 tác phẩm hay phải là 1 tác phẩm mang tính công bằng, lòng nhân ái tạo điều kiện cho người gần người hơn. Đấy là những quan niệm rất đúng mực. Nó góp phần khẳng định thuộc tính xác đáng trong quan niệm của Thạch Lam.

Những nội dung nhưng mà các tác phẩm văn học trị giá đều tạo điều kiện cho con người có tinh thần nhìn nhận lại mình, phát hiện những mặt tốt, từ đấy quyết tâm sửa chữ những mặt xấu, phát huy mặt tốt để khiến cho mình biến thành con người toàn diện. Trong truyện “Sợi tóc”, Thạch Lam mô tả 1 cuộc chiến đấu nội tâm rất gay gắt cùa đối tượng chính lúc đứng trước ranh giới của vùng sáng lương thiện và bóng tối tội vạ của sự trộm cắp. Cuối cùng, đối tượng đã thắng lợi thực chất xấu xa, thấp hèn của mình để bước hẳn ra vùng sáng lương thiện. Rõ ràng người đọc sẽ tự suy ngẫm còn những người còn những suy ngẫm lường gạt, lừa dối sẽ thấy lĩnh ngộ trong lương tâm, từ đấy sẽ hướng lới những điều trong trắng hơn.

Hoặc trong những tác phẩm đầy chất thơ của Thạch Lam Gió đầu mùa, Dưới bóng hoàng lan. Đứa con đầu lòng, người đọc sẽ cảm nhận ở nơi đấy nhiều tình cảm mới lạ, yên ả tựa cánh bướm non . Tâm hồn của mọi người sẽ trở thành dạt dào,tràn ngập xúc cảm. Họ càng thấy yêu hơn cặp trai gái trong truyện, mến hơn đôi vợ chồng trẻ và những đứa trẻ. Từ những tình cảm đấy, họ sẽ cảm thấy gần cận, thông cảm nhau hơn.

Tóm lại, trong đa số các tác phẩm của nhà văn chân chính, trong đấy có cả các nhà văn lãng mạn. Thành ra, các tác phẩm của ông đều nhằm vào mục tiêu đấy. Đi theo trục đường riêng của mình. Thạch Lam có thể kiêu hãnh vì ông đã đế lại 1 số lượng tác phẩm có trị giá, vừa đặm đà những tình cảm thiết tha vừa mang tính hiện thực khá thâm thúy. Với quan niệm đấy, ông ko hẳn là 1 nhà văn lãng mạn nhưng mà cũng chẳng hề là 1 nhà văn hiện thực phê phán. Các nhà văn lãng mạn ko có những tác phẩm nhưng mà trong đấy văn học được sử dụng như là “ 1 thứ khí giới thanh cao và đắc lực” để “tó cáo và chỉnh sửa 1 cái toàn cầu điêu trá và gian ác” các tác phẩm của họ thường nhắc đến tới tình yêu, đem sự giải phóng tư nhân, thảng hoặc có 1 vài nhà văn lãng mạn đi lệch sang 1 đề tài khác như Lan Khai với tác phẩm “Lẩm than” … Những cái đấy cũng chỉ là sự vượt biên chút đỉnh, sau đấy rồi cũng trở lại với đề tài cũ. Còn các nhà văn hiện thực phê phán thì chỉ dùng tác phẩm của minh để “cáo giác” cái xã hội “ điêu trá và gian ác” là xã hội thực dân nửa phong kiến đương thời chứ chưa có 1 hướng nào đấy để chỉnh sửa cái xã hội đấy tốt đẹp hơn lên.

Tác phẩm của các nhà văn hiện thực phê phán thường có 1 hoàn thành tuyệt vọng, ko có lối thoát. Đấy chẳng qua do nhận thức chưa tới độ 9, có tức là các nhà văn đấy chưa trông thấy rõ ràng mai sau, chưa hướng văn học vào mục tiêu tốt đẹp, có hiệu quả nhất.

Nhưng nói thế nào cũng ko có tức là chỉ riêng 1 mình Thạch Lam quan niệm đúng về văn học và trông thấy rõ được mai sau. Quan niệm về văn học là văn học phải “chỉnh sửa” cái toàn cầu, chủ quản do tính nhân đạo của ông. Ông ko muốn trông thấy cái xã hội dối lừa, ác nghiệt, bạo tàn. Do vậy ông luôn có ý muốn cho tác phẩm của mình, cho đối tượng của mình thoát ra những cái xấu xa để bươn đến sự tốt. Đây cũng là 1 nghĩ suy tốt đẹp của Thạch Lam. nhưng mà đâu phải dễ ợt 1 sớm 1 chiều chỉnh sửa, nếu như cái xã hội thực dân bạo tàn kia, sau này phải nhờ cách mệnh mới có thể lật đổ và chỉnh sửa được.

Dù sao, quan niệm về văn học của Thạch Lam là 1 quan niệm rất đúng. Nó nói chung lại 1 số trong những tính năng và trị giá thực sự của văn học. Văn học hiện nay cũng phải phát huy thật triệt để những tác dụng của mình, cùng lúc phải góp phần chỉnh sửa xã hội càng ngày càng tốt đẹp hơn.

[Luyện tập] Câu 2: Bàn về thơ Tố Hữu, nhà phê bình Hoài Thanh viết:…

Bàn về thơ Tố Hữu, nhà phê bình Hoài Thanh viết: “Thái độ toàn tâm, toàn ý vì cách mệnh là nguyên cớ chính đưa tới thành công của thơ anh”. Hãy bộc bạch quan điểm đối với giám định trên.

Trả lời:

Nhà phê bình Hoài Thanh lúc giám định về thơ Tố Hữu có  viết: “Thái độ toàn tâm, toàn ý vì cách mệnh là nguyên cớ chính đưa tới thành công của thơ anh”. Nhận định của thi sĩ rất đúng với cuộc đời và sự nghiệp thơ ca của Tố Hữu. Với thi sĩ Tố Hữu thơ ca và đời sống không phải tranh chấp với nhau, sống là hành động, nhưng mà thơ cũng là hành động. Thơ của Tố Hữu là bề ngoài tươi đẹp của hoạt động cách mệnh, của đời sống.

Tố Hữu là lá cờ đầu của thơ ca Việt Nam, thi sĩ có cá tính độ đáo: Trữ tình chính trị. Những đặc điểm của cá tính đấy đã in đậm trên từng tác phẩm, và trục đường cách mệnh của ông. Tố Hữu đầu tiên là 1 chiến sỹ yêu nước, ông lấy lý tưởng cộng sản để làm cảm hứng cho các sáng tác của mình. Thành ra, với ông thơ đầu tiên phải là công cụ đắc lực chuyên dụng cho cho sự nghiệp cách mệnh, cho những nhiệm vụ chính trị được tạo nên trong từng quá trình lịch sử không giống nhau. Với ông, thơ chính trị đã biến thành thơ trữ tình thâm thúy.

Lý tưởng cộng sản chính là đầu đuôi của mọi cảm hứng thông minh trong thơ Tố Hữu. Nó chi phối  từ quan niệm nghệ thuật tới đề tài, chuyển đề, xúc cảm và cả các hình tượng đối tượng trữ tình. “Với Tố Hữu tả cảnh hay tả tình, khóc mình hay khóc người,  viết về vấn đề bự hay bé đều là để nói cho hết cái lý tưởng cộng sản đấy thôi” – Chế Lan Viên.

Ví như trong tập thơ “Từ đấy” chúng ta thấy lý tưởng cộng sản được trình bày thật đẹp đẻ sinh trong hình ảnh mặt trời chân lý và cảnh mai sau tương sáng. Sự tỉnh ngộ cách mệnh mang đến cho thi sĩ 1 cảm hứng lãng mạn, xây dựng nên 1 hình tượng trữ tình mới – người thanh niên cộng sản:

“Từ đấy trong tôi bừng nắng hạ

Mặt trời chân lý chói qua tim

Hồn tôi là 1 vườn hoa lá

Rất đậm hương và rộn tiếng chim…”

Con đường sự nghiệp văn học của ông gắn liền với cách mệnh. Mỗi thời điểm lịch sử của dân tộc đều được ông lấy làm cảm hứng sáng tác trong thơ ca của mình. Đọc thơ ca của ông chúng ta có thể thấy sự thay đổi của cách mệnh Việt Nam qua từng giai đoạn. Lý tưởng cộng sản của ông cũng dần được định hình rõ nét qua từng tác phẩm hình thành dấu ấn riêng mình.

Ở tập thơ “ Gió lộng” viết 5 1955 -1961  lý tưởng cộng sản được Tố Hữu trình bày ở 2 mảng đề tài và đây cũng là 2 nhiệm vụ bự lao của cách mệnh . 1 là xây dựng CNXH ở miền Bắc và giải phóng miền Nam hợp nhất giang sơn.

“ Yêu biết mấy những con người đi đến

Hai cánh tay như 2 cánh bay lên

Ngực dám đón những phong 3 bão táp

Chân đạp bùn ko sợ các loài sên”

Hướng về miền Nam cật ruột tác giả cũng dành những vần thơ nói lên nỗi đau của những anh em bị tàn sát:

“ Hãy nghe tiếng của ngàn xác chết

Chết thê thảm, chết 1 ngày bi thiết

Cả ngàn nguời, trong 1 trại giam

Của 1 nhà giam bự: Miền Nam!”

Thơ ca của Tố Hữu chủ quản khách thác cảm hứng từ đời sống chính trị của quốc gia từ trục đường hoạt động cách mệnh của bản thân. Nhưng Tố Hữu viết về những vấn đề chính trị bằng tất cả sự tâm huyết của 1 trái tim xúc cảm. Cái tôi trữ tình trong thơ Tố Hữu ngay từ buổi đầu là cái tôi chiến sỹ nhưng mà theo 5 tháng càng về sau cái tôi đấy càng nhân danh cách mệnh, nhân danh dân tộc. Ông đã dành cả cuộc đời mình cho cách mệnh cho dân tộc và chính bằng trái tim tâm huyết đầy mến thương của mình.

“Chỉ là 1 giữa nhân loại đau buồn

Vứt trong lồng con giữa 1 lồng mập

Chuyển đời quay theo tiếng gọi tự do

Tôi chỉ 1 giữa muôn người tranh đấu”

Tính chính trị trữ tình trong thơ Tố Hữu hình thành thiên hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn. Nổi trội lên trong thơ Tố Hữu là vấn đề vận mệnh dân tộc, tập thể chứ chẳng hề vấn đề tư nhân. Nói đúng hơn căn số tư nhân hòa căn số dân tộc, tập thể. Thơ ông dạt dào cảm hứng lãng mạn hướng về lý tưởng cộng sản và mai sau xã hội chủ nghĩa. Thể hiện cuộc sống giác quan đấy, toàn cầu hình tượng trong thơ Tố Hữu là toàn cầu cao cả, lý tưởng của anh sáng, gió lộng, niềm tin.

Bài thơ Việt Bắc là bài thơ trình bày rõ nét nhất lý tưởng cộng sản, trục đường cách mệnh cũng như tính dân tộc, sử thi trong thơ ca ông. Những câu thơ lục bát truyền thống của dân tộc vốn mềm mại, uyển chuyển lại trình bày chất hùng tráng mạnh bạo. Những câu thơ rất lãng mạn, hình thành vẻ đẹp lý tưởng của cả 1 dân tộc người hùng. Ở đấy trình bày tư thế kỳ vĩ, ngạo nghễ của những người người hùng được hòa quyện trong nét đẹp bình dị, thân thiện:

“Những đường Việt Bắc của ta

Đèn pha bật sáng như mai sau lên”

Khí thế hào hùng của dân tộc trong cuộc kháng chiến đã được tái tạo sinh động trong những dòng thơ đậm chất sử thi. Hình ảnh có sức nói chung bự lao, giúp người đọc tưởng tượng được rừng cây núi đá cùng con người đứng lên kháng chiến. Núi là lũy sắt, rừng là trận địa để che quân nhân, để vây kẻ thù. Hình ảnh có bản lĩnh tái tạo hiện thực cuộc kháng chiến khó khăn, người hùng của dân tộc, làm nổi trội ý thức quyết đấu, quyết thắng khát vọng cứu nước, cứu nhà và lòng phẫn nộ giặc sôi sục của con người. Câu thơ ” Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay” tương thích về ý tứ, nhịp độ vừa lãng mạn vừa hào hùng vừa làm ngời sáng khí phách của đoàn quân ra trận, của cả 1 dân tộc cùng ánh hào quang đặc sắc của lý tưởng, khát vọng thắng lợi.

Thơ Tố Hữu còn có giọng điệu rất dễ nhìn thấy đấy là giọng điệu tâm sự là ngôn ngữ của tình thương yêu. Như thi sĩ Chế Lan Viên nói “Thơ Tố Hữu là thơ cách mệnh, chứ chẳng hề thơ tình yêu, nhưng mà thơ anh là của 1 nhân tình, anh nói các vấn đề bằng trái tim của 1 người đắm đuối. Cái sức mạnh bự nhất của Tố Hữu là quả tim anh”. Điều này dễ nhận thấy ở bài thơ Việt Bắc đã sử dụng thể thơ lục bát cùng cách đối đáp giao duyện ngọt ngào tha thiết cùng cặp đại từ nhân xưng “minh , ta” ăn nhịp sánh duyên.

Việc khẳng định cá tính thơ trữ tình chính trị đã đưa Tố Hữu lên địa điểm long trọng trong nền thơ ca dân tộc. “Thời đại người hùng yêu cầu những lời lẽ người hùng”. Khí thế oai hùng của những ngày tranh đấu đã dội vào thơ anh, in dấu trong thơ Tố Hữu những nét chẳng thể nhạt phai. Đúng như nhà phê bình Hoài Thanh viết:”Thái độ toàn tâm toàn ý với lý tưởng cách mệnh đã đem lại sự thành công trong sự nghiệp thơ ca của anh”.

.


Thông tin thêm về Bài soạn lớp 12: Nghị luận về một ý kiến bàn về văn học

Chỉ dẫn soạn bài: Nghị luận về 1 bài thơ, đoạn thơ – Trang 84 sgk ngữ văn 12 tập 1. Tất cả các câu hỏi trong bài học đều được giải đáp phân minh và dễ hiểu. Với cách soạn sau, các em học trò sẽ nắm tốt nội dung bài học. Ngoài ra, nếu có câu hỏi nào, các em comment phía dưới để thầy cô trả lời.

Câu giải đáp:

1. Khái niệm:

  • Quan điểm bàn về văn chương là giám định (khen hay chê) về tác giả, tác phẩm, văn chương sử, lý luận văn chương….
  • Nghị luận về quan điểm văn chương là giai đoạn áp dụng nhiều thao tác lập luận như giảng giải, chứng minh, phân tách, bình luận, bình giải, so sánh, phản bác…để khiến cho người đọc, người nghe hiểu sâu quan điểm ở nhiều giác độ không giống nhau.

2. Mày mò đề và lập dàn ý

Đề bài: Nhà nghiên cứu Đặng Thai Mai cho rằng: “Nhìn chung văn chương Việt Nam phong phú, nhiều chủng loại; nhưng mà nếu cần xác định 1 chủ lưu, 1 dòng chính, quán thông cổ lai, thì đấy là văn chương yêu nước”.

(Dẫn theo Trần Văn Giàu, hợp tuyển, NXB Giáo dục 2001)

Mày mò đề:

  • Ý nghĩa của các từ ngữ:
    • Phong phú, nhiều chủng loại: có nhiều tác phẩm với nhiều bề ngoài, thể loại không giống nhau.
    • Chủ lưu: dòng chính (bộ phận chính), khác với phụ lưu, chi lưu.
    • Quán thông cổ lai: hiểu rõ từ xưa cho tới hiện tại.
  • Nội dung của giám định nêu ở đề bài: Văn chương Việt Nam có rất nhiều tác phẩm với nhiều bề ngoài và thể loại không giống nhau, nhưng mà bộ phận chính hiểu rõ từ xưa cho tới hiện tại là văn chương yêu nước.
    • Đề nghị về cách thức: Gicửa ải thích, phân tách, chứng minh, so sánh, bình luận.
    • Đề nghị về tư liệu: Các tác phẩm văn chương Việt Nam.

Lập dàn ý:

Mở bài:

  • Dẫn dắt vào đề : VHVN phong phú, nhiều chủng loại với 2 đề tài bự là yêu nước và nhân đạo.
  • Trích dẫn quan điểm của Đặng Thai Mai.

Thân bài:

  • Gicửa ải thích nội dung quan điểm:
  • Bình chọn: Quan điểm hoàn toàn đúng:
    • Cuộc sống con người Việt Nam phong phú, nhiều chủng loại -> văn chương phản ảnh -> phong phú, nhiều chủng loại.
    • Chứng minh:
      • Văn chương mô tả, trình bày, bình chọn tự nhiên, con người, xã hội dưới nhiều giác độ, tình cảm (thương cảm, ngợi ca, phê phán, lên án, cáo giác, cười chê, giáo huấn)
      • Bằng nhiều văn pháp: ngụ ngôn, huyền thoại, thổi phồng, trữ tình, hiện thực, lãng mạn…
      • Nhiều tác phẩm với nhiều bề ngoài thể loại (VHDG gần 10 thể loại, VH viết phần đông đầy đủ)
  • Lịch sử dân tộc Việt Nam -> chống nhiều thần thế ngoại xâm -> văn chương khích lệ -> văn chương yêu nước.
    • Chứng minh:
      • VHDG: ca dao, truyền thuyết… ngợi ca cảnh quan, người hùng cứu nước
      • VH viết: Nam quốc nước nhà, Hịch tướng sĩ, Đại cáo bình Ngô, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Tuyên ngôn độc lập, …

Thể loại phong phú, nhiều chủng loại: thơ, cáo, hịch, văn tế, văn xuôi, chữ Hán, chữ Nôm, chữ Quốc ngữ, tiếng Pháp… 

  • Kết bài:
    • Khẳng định chung về quan điểm: Là người Việt Nam, cần nắm tình cảnh lịch sử quốc gia và đặc điểm dân tộc.
    • Giá trị của quan điểm: Giúp ta nhìn rõ và khắc sâu điều đấy

Ghi nhớ:

  • Nhân vật nghị luận về 1 quan điểm bàn về văn chương rất nhiều chủng loại: Về văn chương sử, về lí luận văn chương, về tác phẩm văn chương…
  • Việc nghị luận về 1 quan điểm bàn về văn chương thường tập hợp và giảng giải, nêu ý nghĩa và tính năng của quan điểm đấy đối với văn chương và đời sống.

[Luyện tập] Câu 1: Bình luận quan điểm sau đây của nhà văn Thạch Lam về văn học:…

Bình luận quan điểm sau đây của nhà văn Thạch Lam về văn học: Văn học là 1 thứ khí giới thanh cao và đắc lực nhưng mà chúng ta có để vừa cáo giác và chỉnh sửa 1 toàn cầu điêu trá và gian ác, vừa khiến cho lòng người thêm trong lành và phong phú hơn.

Trả lời:

Lập dàn ý:

a. Mở bài: 

  • Giới thiệu tác giả Thạch Lam.
  • Trích dẫn quan điểm của Thạch Lam về tác dụng của văn chương.

b.Thân bài:

  • Gicửa ải thích về ý nghĩa câu nói: Thạch Lam nêu lên tác dụng mập bự và cao cả của văn chương.
  • Bình luận và chứng minh quan điểm: Đấy là 1 ý kiến rất đúng mực về trị giá văn chương: 

c:Kết bài:

  • Khẳng định sự đúng mực và tân tiến trong ý kiến sáng tác của Thạch Lam.
  • Nêu tính năng của quan điểm trên đối với người đọc:
    • Hiểu và giám định đúng trị giá của tác phẩm văn chương.
    • Trân trọng, yêu mến và giữ giàng những tác phẩm văn chương tân tiến của từng giai đoạn. 

Bài mẫu:

Có nhẽ Thạch Lam đã nghĩ suy đúng lúc ông khẳng định “…Đối với tôi, văn học chẳng hề là 1 cách mang đến cho người đọc sự thoát li hay sự quên”. Thoái li, đây là 1 cách xa vắng cuộc sống, làm tươi mát cho cuộc sống để con người hiểu được hơn về cuộc sống mình đang sống và từ đấy quyết tâm khiến cho cuộc sống tốt hơn lên. Đối với con người thì có rất nhiều cách yêu cuộc sống, ở người này yêu bằng 1 cách, ở người kia lại yêu băng cách khác.

Thạch Lam ko muốn người đọc có thể tìm thấy 1 chút nào sự chán ngán muốn xã rời hiện thực, quên cuộc sống trong tác phẩm văn học của ông. Không dẫm vào trục đường của các nhà văn lãng mạn (dù Thạch Lam cũng là nhà văn lãng mạn, hơn nữa lại là 1 trong những người chủ đạo của nhóm Tự Lực Văn Đoàn) theo trục đường tìm tới cõi quên, nhưng mà Thạch Lam lại muốn hướng dòng văn của mình chảy về hướng trái lại, hướng trở về cuộc đời thực. Quan niệm của ông là như thế và chính các tác phẩm của ông cũng chứng tỏ rất rõ điều đấy trong 1 số tác phẩm của mình, những tác phẩm gần cận với hiện thực chiếm hầu như phần nhiều. Văn học Thạch Lam ko nói những gì cao xa nhưng mà đều là những mảnh đời thường dung dị và rất thân quen.

Nhưng nếu văn học ko “mang đến cho người đọc sự thoát li hay sự quên” thì văn học phải là như thế nào ? Đấy cũng chính là vấn đề trọng điểm nhưng mà Thạch Lam nêu lên. “ Văn học là thứ khí giới thanh cao và đắc lực nhưng mà chúng ta có để vừa cáo giác và chỉnh sửa 1 cái toàn cầu điêu trá và gian ác, vừa khiến cho lòng người được thêm trong lành và phong phú hơn”.

Quan niệm này rất đúng, văn học cần thế và phải thế. Đấy chính là sức mạnh của văn học nếu nhà văn nào biết tận dụng triệt để. “Thứ khí giới thanh cao và đắc lực” ở đây chẳng hề để chỉ các súng ống, gậy gộc nhưng mà chúng ta thường gọi là vũ khí, nhưng mà chính là sức mạnh cùa ngòi bút nhà văn, nhựa sống phá mãnh liệt của văn học. Từ xưa, văn học luôn tiềm tàng 1 sức mạnh lo bự nhưng mà nếu người nào biết “điểm trúng huyệt”. Có thể làm lung lay những thành trì vững chãi nhất. Nhưng ở đây, những “khí giới thanh cao và đắc lực”, có nghĩa văn học là 1 thứ vũ khí cao thượng và rất trong lành, chẳng hề là thứ vũ khí phổ biến có thể sử dụng vào bất kỳ mục tiêu nào, dù mục tiêu đấy có xâu xa tới đâu cũng mang đến kết quả. Không, chẳng thể thế.  Ê-luya đã từng nói “Nhà văn là người hữu dụng nhất trong tập thể của mình”. Do đấy chẳng thể đem văn học làm 1 thứ vũ khí phi nghệ thuật. Nhà văn phải dùng văn học “thứ khí giới thanh cao và đắc lực” để “cáo giác và chỉnh sửa 1 toàn cầu gian dối và gian ác”. Đấy chính là mục tiêu chân chính của văn học. Vãn chương mang đến cho con người lòng yêu cuộc sống, gần cận với cuộc sống. Nhưng văn học cũng có nhiệm vụ cáo giác, cải tạo cuộc sống, xã hội cũ đề loại trừ cái xấu xa, gian ác nhưng mà trở về với cái tốt đẹp. Văn học ko mang đến cho người đọc sự thoát li, sự lãng quên, nghĩa là văn học khuyên con người hãy trở về thực tại. Văn học cũng phải biết dùng sức mạnh của thứ vũ khí thanh cao của mình để giúp con người được sống trong 1 xã hội tốt đẹp. Hai nhiệm vụ đấy tưởng như ko quan hệ với nhau nhưng mà thực ra liên can rất chặt chẽ. Đã tiến hành trách nhiệm này thì trách nhiệm kia văn học cũng chẳng thể từ bỏ. Có rất nhiều tác phẩm của các nhà văn đã tiến hành tuyệt vời nhiệm vụ “cáo giác và chỉnh sửa cái toàn cầu gian sảo và gian ác” đấy. Trong Những người khốn khổ. Vichto Huygô cũng ko ngại ngần lúc sử dụng vô cùng mạnh “như bom đạn” của ngòi bút để cáo giác thật quyết liệt cái xã hội Pháp “điêu trá và gian ác”, cái xã hội đã đày đoạ những con người tốt đẹp như Giăng Van – giăng, Côdét vào sự đau buồn, sự cùng cực. Lép Tônxtôi, qua Anna Karerina, cũng lên án mạnh bạo xã hội Nga Hoàng đã chiếm đoạt hạnh phúc và đẩy những người nữ giới đáng thương, khao khát hạnh phúc như Anna vào cái chết chẳng thể cứu vãn được.

Qua vũ khí “thanh cao và đắc lực” của mình,văn học ko chỉ cáo giác xã lội, nhưng mà qua sự cáo giác, văn học còn hướng đến mục tiêu cao cả là “chỉnh sửa” cái xã hội đấy : tức là văn học chẳng hề cáo giác cốt để dìm sâu “cái toàn cầu giả dốì và gian ác” xuống vũng bùn đen, nhưng mà phải tìm cách nâng cái toàn cầu đấy lên, gạn lại những thực chất của nó để từ đấy tăng trưởng lên. Sự chỉnh sửa đấy, văn học chẳng thể tự đảm nhận được, nhưng mà văn học cũng đóng góp 1 phần quan trọng vào giai đoạn chỉnh sửa những nét điêu trá và gian ác của cái tã hội hung ác đầy cá thần thế mờ ám. Ta có thể thấy rất rõ rằng các tác phẩm của các nhà văn, trong đấy có cả Thạch Lam, ngoài mục tiêu cáo giác xã hội ra, còn hướng người đọc tới niềm tin “cái toàn cầu điêu trá và gian ác” trong mai sau sẽ chỉnh sửa, do lược lượng này hoặc lực lượng khác, và sẽ trở thành tốt đẹp. Nhưng những điều này, ta sẽ ko tìm thấy được ở các tác phẩm của các nhà văn lãng mạn như Khcửa ải Hưng, Nhất Linh, Hoàng Đạo, bởi vì các quan niệm văn học của những nhà tiểu thuyết Tự Lực Văn Đoàn đấy khác với quan niệm của Thạch Lam, 1 nhà văn đã khá gần với các nhà văn hiện thực đương thời.

Văn học ko chỉ cốt dùng vũ khí của mình để chỉnh sửa và cáo giác xã hội, nhưng mà văn học còn phải “khiến cho lòng người đọc được thêm trong lành và phong phú hớn”. Quan niệm này hoàn toàn đúng . Đây chính là cái cao cả nhất nhưng mà văn học chân chính muốn vươn đến và cũng chính là 1 trong các tác dụng của văn chương: tác dụng giáo dục .Bản thân con người xoành xoạch vươn đến sự chu toàn của chân, thiện, mĩ. Quá trình vươn lên này của con người có nhiều nhân tố khác tương trợ, trong đấy 1 nhân tố khá quan trọng là văn học, văn học làm “lòng người được thêm trong lành và phong phú”, có tức là văn học đã tạo điều kiện cho những tình cảm trong tâm hồn con người trở thành trong trắng hơn, xinh xắn hơn, cao thượng hơn và dồi dào hơn. Nhân vật chuyên dụng cho của văn chướng chính là con người, do đấy những tác phẩm có trị giá nhất là những tác phẩm chuyên dụng cho đắc lực cho con người, tạo điều kiện cho con người “người” hơn.

Lênin đã từng nói: “Không có tình cảm thì sẽ ko bao giờ và chẳng thể có sự tìm tòi của con người và chân lý”. Chính văn học đã làm giàu thêm tình cảm con người. Văn học cũng giáo dục con người tìm những cái tốt đẹp những phẩm chât trong trắng, từ đấy giúp con người nhận thức được chính bản thân và quyết tâm hoàn thiện mình.

Từ xưa cho tới hiện tại, văn học luôn tìm cách giáo dục con người. Ngô Thì Nhậm đã từng nói đại ý: văn phải ngăn dự phòng điều xấu, khuyến khích điều hay, đấy mới chính là trị giá chính xác của văn học. Nhà văn Nam Cao cũng đã lừng nói ý này : 1 tác phẩm hay phải là 1 tác phẩm mang tính công bằng, lòng nhân ái tạo điều kiện cho người gần người hơn. Đấy là những quan niệm rất đúng mực. Nó góp phần khẳng định thuộc tính xác đáng trong quan niệm của Thạch Lam.

Những nội dung nhưng mà các tác phẩm văn học trị giá đều tạo điều kiện cho con người có tinh thần nhìn nhận lại mình, phát hiện những mặt tốt, từ đấy quyết tâm sửa chữ những mặt xấu, phát huy mặt tốt để khiến cho mình biến thành con người toàn diện. Trong truyện “Sợi tóc”, Thạch Lam mô tả 1 cuộc chiến đấu nội tâm rất gay gắt cùa đối tượng chính lúc đứng trước ranh giới của vùng sáng lương thiện và bóng tối tội vạ của sự trộm cắp. Cuối cùng, đối tượng đã thắng lợi thực chất xấu xa, thấp hèn của mình để bước hẳn ra vùng sáng lương thiện. Rõ ràng người đọc sẽ tự suy ngẫm còn những người còn những suy ngẫm lường gạt, lừa dối sẽ thấy lĩnh ngộ trong lương tâm, từ đấy sẽ hướng lới những điều trong trắng hơn.

Hoặc trong những tác phẩm đầy chất thơ của Thạch Lam Gió đầu mùa, Dưới bóng hoàng lan. Đứa con đầu lòng, người đọc sẽ cảm nhận ở nơi đấy nhiều tình cảm mới lạ, yên ả tựa cánh bướm non . Tâm hồn của mọi người sẽ trở thành dạt dào,tràn ngập xúc cảm. Họ càng thấy yêu hơn cặp trai gái trong truyện, mến hơn đôi vợ chồng trẻ và những đứa trẻ. Từ những tình cảm đấy, họ sẽ cảm thấy gần cận, thông cảm nhau hơn.

Tóm lại, trong đa số các tác phẩm của nhà văn chân chính, trong đấy có cả các nhà văn lãng mạn. Thành ra, các tác phẩm của ông đều nhằm vào mục tiêu đấy. Đi theo trục đường riêng của mình. Thạch Lam có thể kiêu hãnh vì ông đã đế lại 1 số lượng tác phẩm có trị giá, vừa đặm đà những tình cảm thiết tha vừa mang tính hiện thực khá thâm thúy. Với quan niệm đấy, ông ko hẳn là 1 nhà văn lãng mạn nhưng mà cũng chẳng hề là 1 nhà văn hiện thực phê phán. Các nhà văn lãng mạn ko có những tác phẩm nhưng mà trong đấy văn học được sử dụng như là “ 1 thứ khí giới thanh cao và đắc lực” để “tó cáo và chỉnh sửa 1 cái toàn cầu điêu trá và gian ác” các tác phẩm của họ thường nhắc đến tới tình yêu, đem sự giải phóng tư nhân, thảng hoặc có 1 vài nhà văn lãng mạn đi lệch sang 1 đề tài khác như Lan Khai với tác phẩm “Lẩm than” … Những cái đấy cũng chỉ là sự vượt biên chút đỉnh, sau đấy rồi cũng trở lại với đề tài cũ. Còn các nhà văn hiện thực phê phán thì chỉ dùng tác phẩm của minh để “cáo giác” cái xã hội “ điêu trá và gian ác” là xã hội thực dân nửa phong kiến đương thời chứ chưa có 1 hướng nào đấy để chỉnh sửa cái xã hội đấy tốt đẹp hơn lên.

Tác phẩm của các nhà văn hiện thực phê phán thường có 1 hoàn thành tuyệt vọng, ko có lối thoát. Đấy chẳng qua do nhận thức chưa tới độ 9, có tức là các nhà văn đấy chưa trông thấy rõ ràng mai sau, chưa hướng văn học vào mục tiêu tốt đẹp, có hiệu quả nhất.

Nhưng nói thế nào cũng ko có tức là chỉ riêng 1 mình Thạch Lam quan niệm đúng về văn học và trông thấy rõ được mai sau. Quan niệm về văn học là văn học phải “chỉnh sửa” cái toàn cầu, chủ quản do tính nhân đạo của ông. Ông ko muốn trông thấy cái xã hội dối lừa, ác nghiệt, bạo tàn. Do vậy ông luôn có ý muốn cho tác phẩm của mình, cho đối tượng của mình thoát ra những cái xấu xa để bươn đến sự tốt. Đây cũng là 1 nghĩ suy tốt đẹp của Thạch Lam. nhưng mà đâu phải dễ ợt 1 sớm 1 chiều chỉnh sửa, nếu như cái xã hội thực dân bạo tàn kia, sau này phải nhờ cách mệnh mới có thể lật đổ và chỉnh sửa được.

Dù sao, quan niệm về văn học của Thạch Lam là 1 quan niệm rất đúng. Nó nói chung lại 1 số trong những tính năng và trị giá thực sự của văn học. Văn học hiện nay cũng phải phát huy thật triệt để những tác dụng của mình, cùng lúc phải góp phần chỉnh sửa xã hội càng ngày càng tốt đẹp hơn.

[Luyện tập] Câu 2: Bàn về thơ Tố Hữu, nhà phê bình Hoài Thanh viết:…

Bàn về thơ Tố Hữu, nhà phê bình Hoài Thanh viết: “Thái độ toàn tâm, toàn ý vì cách mệnh là nguyên cớ chính đưa tới thành công của thơ anh”. Hãy bộc bạch quan điểm đối với giám định trên.

Trả lời:

Nhà phê bình Hoài Thanh lúc giám định về thơ Tố Hữu có  viết: “Thái độ toàn tâm, toàn ý vì cách mệnh là nguyên cớ chính đưa tới thành công của thơ anh”. Nhận định của thi sĩ rất đúng với cuộc đời và sự nghiệp thơ ca của Tố Hữu. Với thi sĩ Tố Hữu thơ ca và đời sống không phải tranh chấp với nhau, sống là hành động, nhưng mà thơ cũng là hành động. Thơ của Tố Hữu là bề ngoài tươi đẹp của hoạt động cách mệnh, của đời sống.

Tố Hữu là lá cờ đầu của thơ ca Việt Nam, thi sĩ có cá tính độ đáo: Trữ tình chính trị. Những đặc điểm của cá tính đấy đã in đậm trên từng tác phẩm, và trục đường cách mệnh của ông. Tố Hữu đầu tiên là 1 chiến sỹ yêu nước, ông lấy lý tưởng cộng sản để làm cảm hứng cho các sáng tác của mình. Thành ra, với ông thơ đầu tiên phải là công cụ đắc lực chuyên dụng cho cho sự nghiệp cách mệnh, cho những nhiệm vụ chính trị được tạo nên trong từng quá trình lịch sử không giống nhau. Với ông, thơ chính trị đã biến thành thơ trữ tình thâm thúy.

Lý tưởng cộng sản chính là đầu đuôi của mọi cảm hứng thông minh trong thơ Tố Hữu. Nó chi phối  từ quan niệm nghệ thuật tới đề tài, chuyển đề, xúc cảm và cả các hình tượng đối tượng trữ tình. “Với Tố Hữu tả cảnh hay tả tình, khóc mình hay khóc người,  viết về vấn đề bự hay bé đều là để nói cho hết cái lý tưởng cộng sản đấy thôi” – Chế Lan Viên.

Ví như trong tập thơ “Từ đấy” chúng ta thấy lý tưởng cộng sản được trình bày thật đẹp đẻ sinh trong hình ảnh mặt trời chân lý và cảnh mai sau tương sáng. Sự tỉnh ngộ cách mệnh mang đến cho thi sĩ 1 cảm hứng lãng mạn, xây dựng nên 1 hình tượng trữ tình mới – người thanh niên cộng sản:

“Từ đấy trong tôi bừng nắng hạ

Mặt trời chân lý chói qua tim

Hồn tôi là 1 vườn hoa lá

Rất đậm hương và rộn tiếng chim…”

Con đường sự nghiệp văn học của ông gắn liền với cách mệnh. Mỗi thời điểm lịch sử của dân tộc đều được ông lấy làm cảm hứng sáng tác trong thơ ca của mình. Đọc thơ ca của ông chúng ta có thể thấy sự thay đổi của cách mệnh Việt Nam qua từng giai đoạn. Lý tưởng cộng sản của ông cũng dần được định hình rõ nét qua từng tác phẩm hình thành dấu ấn riêng mình.

Ở tập thơ “ Gió lộng” viết 5 1955 -1961  lý tưởng cộng sản được Tố Hữu trình bày ở 2 mảng đề tài và đây cũng là 2 nhiệm vụ bự lao của cách mệnh . 1 là xây dựng CNXH ở miền Bắc và giải phóng miền Nam hợp nhất giang sơn.

“ Yêu biết mấy những con người đi đến

Hai cánh tay như 2 cánh bay lên

Ngực dám đón những phong 3 bão táp

Chân đạp bùn ko sợ các loài sên”

Hướng về miền Nam cật ruột tác giả cũng dành những vần thơ nói lên nỗi đau của những anh em bị tàn sát:

“ Hãy nghe tiếng của ngàn xác chết

Chết thê thảm, chết 1 ngày bi thiết

Cả ngàn nguời, trong 1 trại giam

Của 1 nhà giam bự: Miền Nam!”

Thơ ca của Tố Hữu chủ quản khách thác cảm hứng từ đời sống chính trị của quốc gia từ trục đường hoạt động cách mệnh của bản thân. Nhưng Tố Hữu viết về những vấn đề chính trị bằng tất cả sự tâm huyết của 1 trái tim xúc cảm. Cái tôi trữ tình trong thơ Tố Hữu ngay từ buổi đầu là cái tôi chiến sỹ nhưng mà theo 5 tháng càng về sau cái tôi đấy càng nhân danh cách mệnh, nhân danh dân tộc. Ông đã dành cả cuộc đời mình cho cách mệnh cho dân tộc và chính bằng trái tim tâm huyết đầy mến thương của mình.

“Chỉ là 1 giữa nhân loại đau buồn

Vứt trong lồng con giữa 1 lồng mập

Chuyển đời quay theo tiếng gọi tự do

Tôi chỉ 1 giữa muôn người tranh đấu”

Tính chính trị trữ tình trong thơ Tố Hữu hình thành thiên hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn. Nổi trội lên trong thơ Tố Hữu là vấn đề vận mệnh dân tộc, tập thể chứ chẳng hề vấn đề tư nhân. Nói đúng hơn căn số tư nhân hòa căn số dân tộc, tập thể. Thơ ông dạt dào cảm hứng lãng mạn hướng về lý tưởng cộng sản và mai sau xã hội chủ nghĩa. Thể hiện cuộc sống giác quan đấy, toàn cầu hình tượng trong thơ Tố Hữu là toàn cầu cao cả, lý tưởng của anh sáng, gió lộng, niềm tin.

Bài thơ Việt Bắc là bài thơ trình bày rõ nét nhất lý tưởng cộng sản, trục đường cách mệnh cũng như tính dân tộc, sử thi trong thơ ca ông. Những câu thơ lục bát truyền thống của dân tộc vốn mềm mại, uyển chuyển lại trình bày chất hùng tráng mạnh bạo. Những câu thơ rất lãng mạn, hình thành vẻ đẹp lý tưởng của cả 1 dân tộc người hùng. Ở đấy trình bày tư thế kỳ vĩ, ngạo nghễ của những người người hùng được hòa quyện trong nét đẹp bình dị, thân thiện:

“Những đường Việt Bắc của ta

Đèn pha bật sáng như mai sau lên”

Khí thế hào hùng của dân tộc trong cuộc kháng chiến đã được tái tạo sinh động trong những dòng thơ đậm chất sử thi. Hình ảnh có sức nói chung bự lao, giúp người đọc tưởng tượng được rừng cây núi đá cùng con người đứng lên kháng chiến. Núi là lũy sắt, rừng là trận địa để che quân nhân, để vây kẻ thù. Hình ảnh có bản lĩnh tái tạo hiện thực cuộc kháng chiến khó khăn, người hùng của dân tộc, làm nổi trội ý thức quyết đấu, quyết thắng khát vọng cứu nước, cứu nhà và lòng phẫn nộ giặc sôi sục của con người. Câu thơ ” Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay” tương thích về ý tứ, nhịp độ vừa lãng mạn vừa hào hùng vừa làm ngời sáng khí phách của đoàn quân ra trận, của cả 1 dân tộc cùng ánh hào quang đặc sắc của lý tưởng, khát vọng thắng lợi.

Thơ Tố Hữu còn có giọng điệu rất dễ nhìn thấy đấy là giọng điệu tâm sự là ngôn ngữ của tình thương yêu. Như thi sĩ Chế Lan Viên nói “Thơ Tố Hữu là thơ cách mệnh, chứ chẳng hề thơ tình yêu, nhưng mà thơ anh là của 1 nhân tình, anh nói các vấn đề bằng trái tim của 1 người đắm đuối. Cái sức mạnh bự nhất của Tố Hữu là quả tim anh”. Điều này dễ nhận thấy ở bài thơ Việt Bắc đã sử dụng thể thơ lục bát cùng cách đối đáp giao duyện ngọt ngào tha thiết cùng cặp đại từ nhân xưng “minh , ta” ăn nhịp sánh duyên.

Việc khẳng định cá tính thơ trữ tình chính trị đã đưa Tố Hữu lên địa điểm long trọng trong nền thơ ca dân tộc. “Thời đại người hùng yêu cầu những lời lẽ người hùng”. Khí thế oai hùng của những ngày tranh đấu đã dội vào thơ anh, in dấu trong thơ Tố Hữu những nét chẳng thể nhạt phai. Đúng như nhà phê bình Hoài Thanh viết:”Thái độ toàn tâm toàn ý với lý tưởng cách mệnh đã đem lại sự thành công trong sự nghiệp thơ ca của anh”.

.

#Bài #soạn #lớp #Nghị #luận #về #1 #kiến #bàn #về #văn #học


  • Tổng hợp: Blog Tiền Điện Tử
  • #Bài #soạn #lớp #Nghị #luận #về #1 #kiến #bàn #về #văn #học
Back to top button